Phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị và Phụ lục, nội dung chính chia làm 3 chƣơng: C ƣơn 1 Cơ sở lý luận v t ự t ễn ủ n ên ứu hƣơng 1 nêu các khái niệm, hệ thống lý thuyết ứng dụng trong quá trình nghiên cứu và giới thiệu về địa bàn nghiên cứu. T ự trạn vị t ế n ƣờ p ụ nữ tron đìn ở nông t ôn m ền nú Nội dung chƣơng 2 tập trung mô tả thực trạng vị thế ngƣời phụ nữ trong gia đình và tìm hiểu những yếu tố ảnh hƣởng đến vị thế của ngƣời phụ nữ trong gia đình ở nông thôn miền núi thông qua điều tra thực tế. C ƣơn 3 Cá n t ệp CTXH nhóm o v ệ nân o vị t ế p ụ nữ nôn t ôn m ền nú hƣơng này đƣa ra tiến trình thực hành TXH với nhóm phụ nữ xã Thanh Thủy, nêu lên vai trò của nhân viên xã hội đồng thời rút ra một số kinh nghiệm qua quá trình thực hiện tiến trình đó. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Cá á n ệm l ên qu n 1.1 Vị thế “ Theo quan niệm của I.Robertsons, vị thế là một vị trí xã hội: Mỗi vị thế quyết định chỗ đứng của một cá nhân hay nhóm xã hội trong kết cấu xã hội cũng nhƣ phƣơng thức quan hệ, ứng xử của cá nhân và nhóm xã hội đó với xã hội xung quanh.Fischer, vị thế là vị trí của một ngƣời đứng trong cơ cấu tổ chức xã hội theo sự thẩm định, đánh giá của xã hội.
Vị thế xã hội là vị trí (địa vị) hay thứ bậc mà những ngƣời đang sống chung với một ngƣời nào đó dành cho anh ta một cách khách quan. Nhƣ vậy, vị thế là một vị trí xã hội của một ngƣời hay một nhóm ngƣời trong kết cấu xã hội, đƣợc sắp xếp, thẩm định hay đánh giá của xã hội nơi ngƣời đó sinh sống. Nói đến vị thế là nói đến vị trí, thứ bậc cao thấp (tức là đặt trong quan hệ so sánh với các thành viên khác trong cộng đồng).2 Vị thế của phụ nữ “ Vị thế của phụ nữ đó chính là địa vị hay thứ bậc mà những ngƣời sống cùng thời dành cho trong bối cảnh ngƣời phụ nữ sinh sống, lao động và phát triển”. Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau do đó họ cũng có thể có nhiều vị thế xã hội khác nhau.
Khi vị trí xã hội của họ thay đổi thì vị thế cũng thay đổi. Mặc dầu có nhiều vị thế xã hội nhƣng các cá nhân luôn có một vị thế chủ đạo xác định rõ chân dung xã hội của họ. Các nhà xã hội học xem vị thế chủ yếu là sản phẩm của đời sống tinh thần, là thái độ và mức độ tôn trọng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hay khinh rẻ của xã hội bày tỏ, biểu lộ ra đối với các cá nhân. Do đó vị thế của ngƣời phụ nữ đƣợc xác định bởi sự nhìn nhận, đánh giá của xã hội đối với ngƣời phụ nữ.3 Gia đình Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về gia đình của các nhà khoa học nghiên cứu ở từng góc độ khác nhau, ở đây chúng ta có thể hiểu khái niệm gia đình nhƣ sau: “Gia đình là một nhóm xã hội đƣợc hình thành trên cơ sở hôn nhân và quan hệ huyết thống, những thành viên trong gia đình có sự gắn bó và ràng buộc với nhau về trách nhiệm, quyền lợi, nghĩa vụ có tính hợp pháp đƣợc nhà nƣớc thừa nhận và bảo vệ”.
“ Gia đình là một thiết chế xã hội, dựa trên hai mối quan hệ cơ bản là hôn nhân (chồng-vợ) và huyết thống (cha-mẹ-con). Theo quy định tại khoản 2, iều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì: Gia đình là tập hợp những ngƣời gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dƣỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”.4 Vị thế của phụ nữ trong gia đình Vị thế của ngƣời phụ nữ trong gia đình đƣợc hiểu là vị trí của họ trong gia đình, đƣợc xác định bởi quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ, và đƣợc thể hiện trên thực tế ở việc ra quyết định về các vấn đề liên quan đến kinh tế gia đình; chi tiêu trong gia đình; việc học hành của con cái.5 Giới “ Giới (Gender) là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân loại học nghiên cứu về vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ bao gồm việc phân chia lao động, các kiểu phân chia các nguồn và lợi ích. Giới đề cập theo các quy tắc, tiêu chuẩn theo nhóm tập thể chứ không theo thực tế cá nhân. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vai trò giới đƣợc xác định theo văn hóa không theo khía cạnh các sự vật học có thể thay đổi theo thời gian, xã hội và địa vực khác nhau.
Khi mới sinh ra chúng ta không có sẵn đặc tính giới. Những đặc tính giới mà chúng ta có đƣợc là do chúng ta học từ gia đình, xã hội và nền văn hóa của chúng ta (tính thay đổi) ”. Giới là quan hệ giữa nam nữ và cách thức mối quan hệ đó đƣợc xây dựng nên trong xã hội. Giới không ám chỉ khái niệm nam giới hoặc phụ nữ với tƣ cách cá nhân mà nói tới quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ(tính tập thể).
Quan hệ này thay đổi theo thời gian, theo hoàn cảnh kinh tế và xã hội. Những yếu tố ảnh hƣởng tới sự thay đổi quan hệ giới trong xã hội tùy thuộc vào sự vận động và phát triển của chính các quan hệ xã hội. ụ thể là các quan hệ có liên quan tới vấn đề dân tộc, giai cấp, chính trị, tôn giáo, lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán. Giới tính là chỉ sự khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, sinh ra đã có.
Ví dụ nhƣ phụ nữ có thể mang thai và sinh con, nam giới thì không.6 Vai trò giới Là vai trò xã hội, là công việc và hoạt động cụ thể mà phụ nữ và nam giới thực hiện lao động. Những tính chất của quan hệ giới đƣợc tạo dựng qua quá trình lịch sử, có tính xã hội, không cố định mà có thể thay đổi qua thời gian, có thể khác thực tế đang làm. Khi phân loại vai trò giới, ta thấy đƣợc trên thực tế ngƣời phụ nữ thƣờng làm ba nhóm công việc sau : lao động kiếm sống, lao động nuôi dƣỡng và công việc cộng đồng.7 Bình đẳng giới “ Bình đẳng giới: “là tình hình lý tƣởng trong đó phụ nữ và nam giới đƣợc hƣởng nhƣ nhau về vị trí xã hội, các cơ hội bình đẳng để phát triển đầy 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đủ tiềm năng nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và đƣợc hƣởng lợi từ các kết quả đó” [12]. Hay “là sự đối xử ngang quyền giữa hai giới nam và nữ, cũng nhƣ giữa các tầng lớp phụ nữ trong xã hội, có xét đến đặc điểm riêng của giới nữ, đƣợc điều chỉnh bởi các chính sách đối với phụ nữ một cách hợp lý” [37, tr 154] 1.8 Công tác xã hội Năm 1970, Hiệp hội quốc gia các nhân viên xã hội Mỹ (N SW) định nghĩa: ông tác xã hội là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm giúp đỡ những cá nhân, các nhóm hoặc cộng đồng tăng cƣờng hoặc khôi phục năng lực thực hiện chức năng xã hội của họ và tạo ra những điều kiện thích hợp nhằm đạt đƣợc những mục tiêu ấy.
Năm 2000, tại ại hội Montreal, Liên đoàn ông tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế (IFSW) đã định nghĩa ông tác xã hội: Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi, thúc đẩy việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con ngƣời và sự tăng quyền lực và giải phóng ngƣời dân nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết hành vi con ngƣời và hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tƣơng tác giữa con ngƣời và môi trƣờng của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề Công tác xã hội. Năm 2004, Liên đoàn ông tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế họp ở anada đã đƣa ra định nghĩa: ông tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi của xã hội, bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội) vào quá trình tăng cƣờng năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Công tác xã hội đã giúp cho con ngƣời phát triển đầy đủ và hài hòa hơn và đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho mọi ngƣời dân. 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với quan niệm phong phú về Công tác xã hội nhƣ vậy nên việc nêu một định nghĩa thật hoàn chỉnh, chính xác về Công tác xã hội không phải là đơn giản. Tuy nhiên, có thể tóm tắt nội dung khái niệm Công tác xã hội nhƣ sau: “ Công tác xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp, một nghề, một dịch vụ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho một nhóm ngƣời, một cộng đồng khi gặp khó khăn mà tự họ không tìm ra lối giải quyết. Công tác xã hội với trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề trong quan hệ của con ngƣời, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông qua mối quan hệ tƣơng tác đã đƣợc cải thiện.
Nó tăng cƣờng năng lực, giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình, cộng đồng thông qua các hoạt động hƣớng vào mối quan hệ hình thành sự tƣơng tác giữa các cá nhân với môi trƣờng. Công tác xã hội còn cung ứng thông tin, tài liệu, sự hỗ trợ tinh thần và các kỹ năng chuyên môn thông qua sự quan tâm giữa ngƣời và ngƣời nhằm giúp đối tƣợng có thêm khả năng, điều kiện và hoàn cảnh để họ tự cải thiện cuộc sống của chính mình. Nhân viên Công tác xã hội với các kỹ năng đƣợc đào tạo về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp là ngƣời trực tiếp làm việc để đạt các mục đích định rõ, vận dụng các phƣơng pháp, kỹ năng cơ bản trong công tác xã hội để làm cho đối tƣợng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề đang đặt ra của mình cho phù hợp với sự thay đổi mô hình xã hội.