CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ TÍNH HỮU ÍCH CỦA THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH Báo cáo tài chính (BCTC) là sản phẩm hoàn chỉnh của quy trình kế toán tài chính, được tạo ra nhằm cung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng. BCTC là công cụ truyền tải thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và các thông tin khác của một doanh nghiệp. Tính hữu ích của BCTC thể hiện ở những lợi ích mà người sử dụng BCTC có được thông qua các thông tin mà BCTC cung cấp, chính là khả năng giúp ích cho việc ra quyết định kinh tế. Luận văn tập trung nghiên cứu tính hữu ích của BCTC cho đối tượng sử dụng là nhà đầu tư để ra quyết định kinh tế.1 BẢN CHẤT CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH.1 Theo quan điểm của Việt Nam.
- Theo Chuẩn mực kế toán số 21- Trình bày BCTC – BCTC phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của doanh nghiệp, đáp ứng cho nhu cầu hữu ích cho số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. - Theo Luật kế toán (2003) – Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng BCTC cho đối tượng có nhu cầu sử dụng. BCTC được lập theo Chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán, dùng để tổng hợp và thuyết minh về tình hình kinh tế, tài chính của đơn vị.
- Theo Chế độ kế toán – BCTC dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Như vậy, bản chất của BCTC là phản ánh sự kết hợp của hai yếu tố: những sự kiện kinh tế xảy ra trong quá khứ và các nguyên tắc kế toán được thừa nhận. Từ sự kết hợp của hai yếu tố này, BCTC là công cụ phản ánh thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng sử dụng như Nhà nước, chủ doanh nghiệp và các đối tượng bên ngoài khác.2 Theo quan điểm của Hội đồng chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB). - Theo CMKT quốc tế số 01 - IAS 01 (2007) Presentation of Financial Statements: Theo đoạn 9 của IAS 01 - Mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động và những thay đổi trong tình hình tài chính của một doanh nghiệp.
Các thông tin trên hữu ích cho nhiều đối tượng sử dụng trong việc ra quyết định kinh tế. Để đạt được các mục tiêu nêu trên, BCTC phải cung cấp được các thông tin về tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập và chi phí cũng như các dòng tiền của một doanh nghiệp. - Theo IFRS Framework (2010) – Conceptual Framework for Financial Reporting 2010: Đối tượng sử dụng thông tin của BCTC là các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng, các bên cho vay. Các đối tượng này sử dụng thông tin trên BCTC để đưa ra các quyết định liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ các công cụ vốn chủ sở hữu và các công cụ nợ, quyết định cho vay, thanh toán các khoản nợ và các dạng thức cấp tín dụng khác.
Các yếu tố liên quan đến “tình hình tài chính” được trình bày trên Bảng cân đối kế toán, “kết quả hoạt động” được trình bày trên Báo cáo thu nhập và “sự thay đổi tình hình tài chính” được trình bày trên Báo cáo các dòng tiền. Như vậy, bản chất của BCTC là những tài liệu được soạn thảo nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho việc ra quyết định kinh tế. Theo quan điểm của IASB, đối tượng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 sử dụng BCTC khá rộng, tuy nhiên IASB cũng xác định rõ đối tượng ưu tiên cung cấp thông tin là nhà đầu tư và chủ nợ.2 CÁC ĐỐI TƯỢNG PHỤC VỤ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ VAI TRÒ CỦA BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẦU TƯ.1 Đối tượng phục vụ của BCTC. Theo Luật kế toán Việt Nam (2003), đối tượng phục vụ của BCTC được đề cập trong Luật là “đối tượng có nhu cầu thông tin của đơn vị kế toán”, hay theo CMKT Việt Nam số 01- Chuẩn mực chung là “người sử dụng BCTC”, và theo CMKT Việt Nam số 21 – Trình bày BCTC “số đông người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”.
Như vậy, theo những quy định Pháp lý về kế toán hiện đang áp dụng ở Việt Nam, đối tượng phục vụ của thông tin trên BCTC không được nêu rõ chi tiết, tất cả các bên có nhu cầu sử dụng thông tin đều là đối tượng phục vụ của BCTC. BCTC là nguồn thông tin quan trọng không chỉ đối với nội bộ doanh nghiệp mà còn phục vụ chủ yếu cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp như: các cơ quan quản lý Nhà nước, các nhà đầu tư hiện tại, các nhà đầu tư tiềm năng, các bên cho vay, … Mỗi đối tượng sử dụng yêu cầu loại thông tin nào tùy thuộc vào các loại quyết định mà đối tượng đó cần đưa ra. - Đối với nhà quản lý doanh nghiệp: các nhà quản lý cần công khai các thông tin trên BCTC định kỳ về hoạt động của doanh nghiệp nhằm thể hiện cho các nhà đầu tư biết doanh nghiệp đang có mức lợi nhuận cao nhất và rủi ro thấp nhất. Mặt khác, thông tin thể hiện trên BCTC cũng giúp các nhà quản lý trong công tác quản lý, điều hành hoạt động sản xuất của đơn vị.
- Đối với các cơ quan Nhà nước (như cơ quan Thuế, Thống kê): BCTC cung cấp thông tin cần thiết cho việc thực hiện các chức năng quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế; giúp cho việc kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan tài chính Nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, cũng như là cơ sở tính thuế hay các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 khoản phải nộp khác của doanh nghiệp đối với ngân sách Nhà nước. Mặt khác, thông tin cung cấp từ BCTC còn thể hiện tình hình thực hiện các nghĩa vụ của doanh nghiệp đối với Nhà nước. - Nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng hay chủ nợ có xu hướng quan tâm đến BCTC để thực hiện các quyết định đầu tư và cho vay. Các đối tượng này cần thông tin trên BCTC để đưa ra quyết định đầu tư, cho vay, sau đó dựa vào BCTC sẽ thực hiện việc giám sát và bắt buộc nhà quản lý thực hiện theo đúng hợp đồng, cam kết.
Theo quan điểm của Quốc tế, BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho các quyết định kinh tế. “Mục đích của BCTC là cung cấp thông tin của đơn vị báo cáo, đây là những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và chủ nợ hiện tại và tiềm năng để ra các quyết định cung cấp nguồn lực cho đơn vị. Các quyết định này liên quan đến việc mua, bán, hoặc nắm giữ các công cụ vốn chủ sở hữu và các công cụ nợ, quyết định cho vay, thanh toán các khoản nợ và các dạng thức cấp tín dụng khác” Theo mục OB2, Conceptual Framework. Như vậy có thể thấy rằng, về quan điểm “đối tượng phục vụ của BCTC” có sự khác biệt giữa quy định của Việt Nam và quốc tế.
Cụ thể: khuôn mẫu lý thuyết hiện tại của IASB khẳng định “nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng” là đối tượng ưu tiên phục vụ, còn quy định của Việt Nam hướng tới nhiều nhóm đối tượng phục vụ, tất cả những người có nhu cầu sử dụng thông tin để ra các quyết định kinh tế.2 Vai trò thông tin trên BCTC đối với các nhà đầu tư.1 Lợi ích mang lại cho các nhà đầu tư từ việc sử dụng BCTC. Các nhà đầu tư được đề cập đến trong nghiên cứu bao gồm cả nhà đầu tư hiện hữu và nhà đầu tư tiềm năng. Đối với nhà đầu tư hiện hữu, họ quan tâm đến khả năng ổn định tài chính, phát sinh lợi nhuận, cũng như thu nhập của doanh nghiệp có thể tăng hoặc giảm như thế nào trong tương lai. Đối với những nhà đầu tư tiềm năng, họ quan tâm đến thành tựu của doanh nghiệp làm được trong năm hiện tại cũng như quá khứ, để họ đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không.
Chính những mục tiêu như LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 vậy, các nhà đầu tư sẽ khai thác tất cả các nguồn thông tin để phân tích đánh giá. Đến nay, nguồn thông tin tài chính mà được phần đông các nhà đầu tư quan tâm, sử dụng đến chính là BCTC của các doanh nghiệp. Khi xây dựng danh mục đầu tư, và ra quyết định đầu tư vào một doanh nghiệp, hàng loạt các thông tin trên BCTC sẽ được nhà đầu tư tiếp cận, phân tích và đánh giá trực tiếp. Việc nghiên cứu các mối quan hệ, các tỷ suất giữa các chỉ tiêu trên BCTC chưa đánh giá đầy đủ bản chất tài chính của một doanh nghiệp, nhưng giúp cho nhà đầu tư mô tả tình trạng tài chính của doanh nghiệp đó, năng suất hoạt động và khả năng sinh lợi tương ứng.
Đây là vai trò vô cùng quan trọng của BCTC đối với quyết định kinh tế của nhà đầu tư. Thông tin tài chính chứa đựng các lợi ích trình bày như trên là do bản chất của thông tin trên BCTC chứa đựng yếu tố giá trị dự báo, và giá trị so sánh: - Giá trị dự báo của thông tin tài chính: Tiếp cận, nghiên cứu, phân tích thông tin BCTC trong quá khứ của một doanh nghiệp sẽ giúp nhà đầu tư đánh giá được tương lai tài chính của doanh nghiệp đó, là cơ sở cho các kỳ vọng của nhà đầu tư. - Giá trị so sánh: Thông tin trên BCTC hiện nay khá nhất quán, do hầu hết các khoản mục trên BCTC được ghi nhận, đo lường và trình bày theo những quy định về pháp lý kế toán như: Luật, chuẩn mực và chế độ kế toán. Do đó các nhà đầu tư có thể so sánh BCTC giữa các doanh nghiệp trong nước để lựa chọn doanh nghiệp sẽ đầu tư.