CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĂN UỐNG TRONG NHÀ HÀNG TIỆC CƯỚI 1. Tổng quan về nhà hàng tiệc cưới và dịch vụ ăn uống trong nhà hàng tiệc cưới 1. Khái niệm về nhà hàng tiệc cưới Mọi người thường bao quát khái niệm tiệc cưới là tất cả những nghi lễ từ lúc hai gia đình họp mặt cho đến khi kết thúc đãi tiệc. Tuy nhiên, thực tế tiệc cưới chỉ đơn giản là một bữa tiệc sau khi hoàn thành buổi lễ cưới.
Tiệc cưới dùng để chiêu đãi anh em, bà con, họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp của cô dâu, chú rể và bạn bè của bố mẹ hai bên. Nếu trước đây, tất cả các buổi tiệc đều được tổ chức tại gia thì ngày nay nhiều cặp đôi đã lựa chọn hình thức tổ chức tiệc tại nhà hàng, khách sạn. Nhà hàng tiệc cưới (trung tâm tiệc cưới) là nơi tổ chức bữa tiệc cho người thân, bạn bè, đồng nghiệp của cô dâu và chú rễ sau khi hoàn thành các nghi thức lễ cưới truyền thống. Mục đích của bữa tiệc là để cảm ơn mọi người đã đến chung vui cùng đôi vợ chồng.
Kinh doanh nhà hàng tiệc cưới là kinh doanh dịch vụ cưới hỏi, cung cấp các gói tổ chức lễ cưới theo yêu cầu khách hàng. Nhà hàng sẽ lên kế hoạch, chuẩn bị toàn bộ quy trình cho việc tổ chức đám cưới : người dẫn chương trình, trang phục, bàn tiệc, món ăn chiêu đãi quan khách… 1. Phân loại nhà hàng tiệc cưới Phân loại theo quy mô : - Nhà hàng quy mô lớn : Ở một số nước Châu Âu, nhà hàng lớn phải có tổng số chỗ ngồi từ 200 trở lên. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hoạt động nhà hàng mới ở giai đoạn đầu phát triển nên số lượng nhà hàng có quy mô lớn chưa nhiều.
Chính vì thế, các nhà hàng có trên 150 chỗ sẽ được xác định là lớn. - Nhà hàng quy mô trung bình : 5 Các nhà hàng có số lượng chỗ ngồi từ 50 đến 150 chỗ được xác định là quy mô trung bình. - Nhà hàng quy mô nhỏ : Tại một số nước Châu Âu, nhà hàng dưới 100 chỗ sẽ được gọi là nhà hàng nhỏ. Nhưng ở Việt Nam, nhà hàng dưới 50 chỗ ngồi mới được xem là quy mô nhỏ.
Phân loại theo chất lượng và trang thiết bị : - Nhà hàng cao cấp : Nhà hàng sẽ được thiết kế và trang trí khá cầu kỳ theo phong cách Châu Âu cổ điển, đặc biệt là kiến trúc Pháp. Không gian ấm cúng nhưng rất hiện đại, sang trọng và có những nhà hàng gần gũi với thiên nhiên. Xu hướng ẩm thực của nhà hàng đa dạng, nhân viên phục vụ được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp. Đối tượng khách của các nhà hàng cao cấp thường có khả năng chi trả cao.
- Nhà hàng bình dân : Không gian nhà hàng được thiết kế và trang trí đơn giản. Nhà hàng thường phục vụ các món ăn và đồ uống mang tính chất đồng quê, dân dã. Các nhà hàng bình dân có thể phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau, khả năng chi trả trung bình hoặc thấp. Ngoài ra, đội ngũ nhân viên có thể đã qua đào tạo nghiệp vụ hoặc không.
Phân loại theo món ăn nhà hàng phục vụ : - Nhà hàng Âu : Nhà hàng phục vụ chủ yếu khách phương Tây và những khách hàng ưa chuộng các món ăn Âu. Các món ăn của nhà hàng được chế biến theo công thức và phương pháp truyền thống Châu Âu phù hợp với khẩu vị khách hàng. Các nhà hàng Âu tại Việt Nam thường xuất hiện ở các khách sạn du lịch từ 3 sao trở lên và những khách sạn liên doanh với nước ngoài. - Nhà hàng Á : Nhà hàng sẽ phục vụ khách các món ăn mang đậm chất ẩm thực Châu Á.
Các món ăn được chế biến theo các phương pháp khác nhau kèm các loại gia vị tự nhiên có sẵn. Để thể hiện bản sắc văn hóa độc đáo trong ẩm thực của từng quốc gia, nhà hàng thường xây dựng các loại phòng ăn riêng như Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam và Nhật Bản. - Nhà hàng đặc sản : 6 Nhà hàng chuyên phục vụ các món ăn và đồ uống độc đáo của một số vùng và địa phương. Khác với các nhà hàng Âu và Á, số lượng món ăn ở đây không nhiều, chỉ một hoặc vài món ăn nhưng cực kỳ độc đáo về công thức chế biến cũng như cách phục vụ.
Bên cạnh đó, nhà hàng đặc sản thường được thiết kế và trang trí nội thất mang đậm nét văn hóa của vùng hoặc dân tộc. Đội ngũ nhân viên phục vụ cũng được trang bị đồ đồng phục phù hợp với phong tục và sinh hoạt. Phân loại theo phương thức phục vụ : - Phục vụ theo định suất (Set Menu Service) : Đây là cơ sở kinh doanh ăn uống phục vụ các bữa ăn theo thực đơn đã thỏa thuận từ trước giữa nhà hàng và khách hàng. Tại đây thường phục vụ hội nghị, hội thảo, liên hoan hoặc khách du lịch theo đoàn.
Đặc điểm của phương thức phục vụ định suất là tất cả khách hàng sẽ được ăn cùng một thực đơn và nhân viên phục vụ chu đáo, tận tình. Ưu điểm của hình thức phục vụ này là nhà hàng sẽ chủ động trong việc chế biến, phục vụ khách và chi phí một suất ăn thường thấp hơn các hình thức phục vụ khác. - Phục vụ món theo sự lựa chọn của khách (A Lacarte) : Nhà hàng chuyên phục vụ các suất ăn theo sự lựa chọn của khách hàng, tùy theo sở thích và khả năng thanh toán. Tại đây, khách hàng sẽ tự lựa chọn món ăn, thức uống mình thích và được nhà hàng phục vụ tại chỗ theo trình tự thực đơn đã chọn.
Ưu điểm nổi bật của phương thức phục vụ này là khách hàng được chọn món ăn và đồ uống theo sở thích, phù hợp với khả năng thanh toán của mình. Tuy nhiên, hình thức này cũng có những nhược điểm như giá thành suất ăn cao hơn phục vụ theo suất và không được chủ động chế biến từ trước nên đôi khi khách hàng phải đợi nếu nhà hàng phục vụ nhiều khách cùng lúc. - Hình thức tự phục vụ (Buffet) : 7 Với loại nhà hàng này, khách sẽ tự lựa chọn món ăn, thức uống theo sở thích và tự phục vụ. Sau khi ăn xong, khách hàng sẽ thanh toán theo một mức giá chung đã được ấn định từ trước.
Đặc điểm của hình thức tự phục vụ là nhà hàng được bố trí làm 2 khu vực là khu trưng bày món ăn và khu bàn ăn của khách. Các món ăn được đầu bếp của nhà hàng trưng bày đẹp mắt, hấp dẫn tạo cảm giác phấn khởi cho khách khi bước vào nhà hàng. So với hình thức phục vụ chọn món và định suất thì nhà hàng tự phục vụ có những ưu điểm như khách hàng được tự do chọn món, tự phục vụ và có thể tự do đi lại trong nhà hàng. Bên cạnh đó, nhà hàng sử dụng ít nhân lực nhưng vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh và đáp ứng được nhu cầu của khách.
Khái niệm về dịch vụ ăn uống - Dịch vụ ăn uống là hình thức cung ứng những dịch vụ theo nhu yếu của người mua tại những nhà hàng quán ăn hay khách sạn. Đây là tiệc cưới, tiệc hội nghị, sự kiện hoặc tổ chức triển khai team building. Dịch vụ ăn uống không chỉ đơn thuần là ship hàng món ăn và thực thi quy trình trang trí, tư vấn lên list thực đơn, dọn bàn hay dàn dựng âm thanh, ánh sáng. - Có 2 loại hình dịch vụ ăn uống : Phục vụ bên trong : Đây là quy trình phục vụ trong nhà hàng, khách sạn.
Theo nhu cầu của khách hàng với nhà hàng, khách sạn có những không gian riêng biệt tách biệt với khu vực kinh doanh. Phục vụ ngoài trời : Hình thức phục vụ tiệc ngoài trời theo yêu cầu của khách hàng. So với dịch vụ ăn uống tại chỗ, hình thức này sẽ phải chịu nhiều thách thức và áp lực khi chuẩn bị thực phẩm, đóng gói và vận chuyển đến nơi phục vụ và dọn dẹp sau khi ăn xong. Đặc điểm của dịch vụ ăn uống Cũng như các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ ăn uống mang những đặc điểm của dịch vụ nói chung, đồng thời cũng mang những đặc điểm riêng.
Đặc điểm chung : 8 - Tính vô hình một cách tương đối : Tính vô tình phản ánh một thực tế là hiếm khi khách hàng nhận được sản phẩm thực từ kết quả của hoạt động dịch vụ. Kết quả thu được với khách hàng thường là sự trải qua dễ chịu hay không mà thôi. Dịch vụ ăn uống được tạo nên từ nhiều yếu tố khác nhau, trong đó có các yếu tố vô hình mà khách hàng không thể nhìn thấy được hoặc cảm nhận được trước khi tiêu dùng dịch vụ được như : mùi, vị của món ăn, thái độ phục vụ của nhân viên… chỉ khi nào tiêu dùng dịch vụ họ mới có thể cảm nhận được các yếu tố đó. - Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng : Khách hàng trên thực tế sẽ quyết định việc sản xuất dịch vụ ăn uống.
Các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ ăn uống không thể tạo ra dịch vụ nếu không có đầu vào là khách hàng. Khách hàng vừa là người tiêu dùng, vừa là người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất dịch vụ. Quá trình sản xuất dịch vụ ăn uống không được thực hiện trước khi có sự xuất hiện của khách hàng. - Tính quyết định của yếu tố con người trong quá trình tạo ra dịch vụ : Các dịch vụ ăn uống được cung cấp bởi con người (người cung cấp) cho con người (người tiêu dùng).
Con người có thể yêu cầu chất lượng dịch vụ cao hay thấp. Ví dụ như trong quá trình thanh toán mà nhân viên thanh toán nhầm cho khách hàng cũng dẫn tới cảm nhận về chất lượng dịch vụ kém đối với nhà hàng của khách hàng. Điều này yêu cầu các nhà cung ứng dịch vụ ăn uống quan tâm nhiều hơn vào việc tuyển chọn, đào tạo, bố trí và đãi ngộ nhân viên để cung ứng chất lượng dịch vụ cao. - Tính dễ hư hỏng và không cất giữ được : Do tính đồng thời của sản xuất và tiêu dùng dịch vụ nên sản phẩm dịch vụ ăn uống không cất giữ được và rất dễ bị hư hỏng.
Ví dụ như số phần đồ ăn dư ngày hôm nay không thể cất giữ đợi cho ngày mai.