Chương 1: Giới thiệu về đề tài luận văn nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng khách hàng Chương 3: Thực trạng hoạt động giao dịch của khách hàng cá nhân trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh. Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lò g của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TPHCM Chương 5: Kết luận và khuyến nghị để nâng cao sự hài lòng của khá h hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng trên địa bàn TPHCM 1. Ý nghĩa ủa đề ài nghiên cứu: Từ kết quả của đề tài nghiên cứu, đây sẽ là cơ sở để các nghiên cứu về sự hài lòng của k ách hàng cá nhân trong lĩnh vực ngân hàng tham khảo. Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu để các ngân hàng trong địa bàn TPHCM tham khảo về cảm nhận của khách hàng tại TPHCM khi sử dụng dịch vụ ngân hàng.
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thuận tiện, sự uy tín, chấ lượng dịch vụ,. của ngân hàng đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự hài lòng của khách hàng, đặc biệt là sự uy tín. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu sẽ cho thấy một bức tranh tổng quan về các ngân hàng tại TPHCM hiện nay. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁ H HÀNG VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG.
Giới thiệu chương. Trước khi bắt đầu nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng cá nhân đối với dịch vụ ngân hàng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, thì chúng ta cần phải hiểu rõ những khái niệm cũng như những cơ sở lý thuyết liên quan đến quá trình nghiên cứu. Bên cạnh đó, vấn đề sự hài lòng của khách hàng đối với ngân hàng cũng đã từng được nhiều tác giả quan tâm và đề cập. Tuy nhiên, đa phần họ chỉ đều nghiên cứu về 1 chi nhánh của ngân hàng nhất định.
Đối với bài nghiên cứu này, có gì mới hơn và những đóng góp ra sao. Để giải quyết được những vấn đề trên, tác giả xin mời mọi người đến với chương Cơ sở lý thuyết.1 Cơ sở khoa học, lý luận của vấn đề nghiên cứu.1 Dịch vụ: Dịch vụ là một loại hàng hóa kinh tế đặc biệt, vô hình khác hẳn với các loại hàng hóa hữu hình khác. Các nhà nghiên cứu có những quan điểm khác nhau về dịch vụ, nghiên cứu này xin được giới thiệu một số khái niệm được trích dẫn của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau như sau: Theo Zeithaml và Britner (2000) dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Lovelock (2001 dẫn theo Oliveria, 2010) dịch vụ là hoạt động kinh tế tạo giá trị và cung cấp lợi ích cho khách hàng tại thời gian cụ thể và địa điểm cụ thể như là kết quả của một sự thay đổi mong muốn, hoặc thay mặt cho người nhận (người sử dụng) dịch vụ.
Theo Kotler & Amstrong (2004), dịch vụ là những hoạt động hay lợi ích mà doanh nghiệp có thể cống hiến cho khách hàng nhằm thiết lập, củng cố và mở rộng những mối quan hệ và hợp tác lâu dài với khách hàng. 6 Theo Mairelles (2006 dẫn theo Oliveria, 2010), một dịch vụ chỉ mang tính chất vô hình và chỉ đánh giá được khi kết hợp với các chức năng khác là các quá trình sản xuất và các sản phẩm hữu hình. Trong nghiên cứu này, dịch vụ ngân hàng được hiểu là toàn bộ các quá trình, các giải pháp mang lại những tiện ích, cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng về các giao dịch với Ngân hàng. Như vậy, có thể hiểu rằng, dịch vụ là những hoạt động tạo ra lợi ích nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng về một hoạt động nào đó.
Các nhà nghiên cứu có thể có cách định nghĩa dịch vụ khác nhau nhưng đều thống nhất về tính chất của dịch vụ. Sách “Quản trị chất lượng trong tổ chức” của Nguyễn Đình Phan và cộng sự (2006) đưa ra một số đặc điểm của dịch vụ như sau: Tính vô hình: Sản phẩm dịch vụ là sản phẩm mang tính vô hình, chúng không có hình thái rõ rệt, người sử dụng không thể thấy nó hoặc cảm nhận về nó trước khi sử dụng. Khách hàng chỉ có thể cảm nhận về chất lượng dịch vụ khi họ sử dụng nó, tương tác với nó và không thể biết trước chất lượng dịch vụ. Hay nói cách khác chất lượng dịch vụ phụ thuộc nhiều vào cảm nhận chủ quan của người sử dụng, rất khó có thể đo lường một cách chính xác bằng các chỉ tiêu kỹ thuật cụ thể.
Tính không đồng nhất: Chất lượng dịch vụ không có tính đồng nhất giữa các thời điểm thực hiện dịch vụ và nó còn phụ thuộc vào cảm nhận cá nhân của khách hàng về dịch vụ. Cùng một chu trình cung cấp dịch vụ nhưng cảm nhận về chất lượng dịch vụ của khách hàng tại những thời điểm khác nhau có thể khác nhau, cảm nhận cùng một dịch vụ của các cá nhân khác nhau có thể khác nhau, dịch vụ có thể được đánh giá từ mức kém đến mức hoàn hảo bởi những khách hàng khác nhau phụ thuộc vào kỳ vọng của họ. Do đặc điểm về tính không đồng nhất của dịch vụ làm cho việc tiêu chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn hơn so với việc tiêu chuẩn hóa các sản phẩm hữu hình khác. Tính không thể tách rời: 7 Tính không thể tách rời của dịch vụ được thể hiện ở sự khó khăn trong việc phân biệt giữa việc tạo thành dịch vụ và việc sử dụng dịch vụ như là hai công việc hay hai quá trình riêng biệt.
Một dịch vụ không thể tách biệt thành hai quá trình riêng biệt là (1) quá trình tạo thành dịch vụ và (2) quá trình sử dụng dịch vụ, chúng là đồng thời với nhau. Sự thạo thành và sử dụng của hầu hết của dịch vụ diễn ra đồng thời với nhau. Đây là sự khác nhau cơ bản với hàng hóa hữu hìn khác: Hàng hóa được sản xuất và đưa vào lưu trữ hoặc chuyển qua phân phối để tới tay người sử dụng, chúng là hai quá trình riêng biệt có thể tách rời một cách rõ ràng. Dịch vụ lại là một quá trình việc tạo ra, sử dụng là đồng thời, khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tham gia trong suốt quá trình tạo ra dịch vụ.
Điều này làm nảy sinh các vấn đề sau: Tính không lưu trữ được: Dịch vụ có quá trình sản xuất và sử dụng diễn ra đồng thời, vì vậy nó không thể lưu trữ được giống như các hàng hóa hữu hình khác. Nói cách khác, ta không thể lưu trữ dịch vụ trước khi đem ra lưu thông được. Tính đồng thời: Tính đồng thời của dịch vụ được thể hiện qua việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diến ra đồng thời với nhau. Không thể tách rời quá trình sản xuất với quá trình tiêu dùng dịch vụ được.2 Dịch vụ ngân hàng Theo WTO, dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chí h, được cung cấp bởi một nhà cung cấp dịch vụ tài chính.
Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ có liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. NHTM là một tổ chức tài chín được thành lập theo quy định của pháp luật, hoạt động kinh doanh tiền tệ và các hoạt động khác có liên quan. Như vậy, mặc dù không trực tiếp tạo ra sản phẩm cụ thể, nhưng với việc đáp ứng các nhu cầu về tiền tệ, về vốn, về thanh toán cho khách hàng, ngân hàng đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ trong nền kinh tế và thuộc phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ của bảng phân loại các loại dịch vụ trong GATS của WTO. 8 Ngân hàng là một dạng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đặc biệt và cực kỳ nhạy cảm là lĩnh vực tài chính, tiền tệ.
Ngân hàng không trực tiếp tạo ra sản phẩm vật chất cụ thể mà bằng chức năng và vai trò ủa mì h, đáp ứng các nhu cầu về vốn, sinh lời, thanh toán, cất trữ tài sản,…cho khách hàng, đã gián tiếp tạo ra sản phẩm dịch vụ cho nền kinh tế nên được xếp vào nhóm ngành dịch vụ. Dịch vụ ngân hàng là tập hợp các đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm làm làm hài lòng và đáp ứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường tiền tệ. Theo xu thế phát triển, hội nhập và toàn cầu hóa, các ngân hàng trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã triển khai nhiều dịch vụ tài chí h ngày càng đa dạng, hiện đại, tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhanh chóng các nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Ở Anh, hoạt động ngân hàng được phân thành 3 loại hình dịch vụ chính: dịch vụ trung gian tài chính (nhận tiền gửi và cho vay), dịch vụ thanh toán, các dịch vụ khác.
Hầu hết các hoạt động nghiệp vụ của NHTM đều gọi là dịch vụ ngân hàng. Ở Việt Nam, trong Luật Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 tuy không có định nghĩa về dịch vụ ngân hàng nhưng có quy định rõ các hoạt động của NHTM gồm: nhận tiền gửi và các giấy tờ có giá để huy động vốn, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Như vậy có thể hiểu dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các dịch vụ tài chính mà ngân hàng cung cấp cho tất cả các đối tượng khách hàng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lời, nhu cầu kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng,… Thông qua đó, các ngân hàng thu được doanh thu từ chênh lệch lãi suất, tỷ giá hoặc phí dịch vụ; đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng có hiệu quả. Nhìn chung, dịch vụ ngân hàng cũng có đầy đủ đặc điểm của một dịch vụ thông thường để tạo nên tính khó định lượng và không thể nhận biết được bằng mắt thường đó là: tính vô h nh, tính không ồng nhất, tính không thể tách rời, tính không thể cất trữ.3 Khách hàng cá nhân Theo cách thức cung cấp, dịch vụ ngân hàng gồm 2 hình thức: dịch vụ ngân hàng bán buôn và dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
Có thể hiểu dịch vụ ngân hàng bán lẻ là hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng cá nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa.