Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đồng tính luyến ái (ĐTLA) là một xu hướng tính dục tự nhiên nhưng trong tiến trình lịch sử đã từng đối mặt với nhiều định kiến và sự kỳ thị khắt khe. Từ các biến cố mang tính bước ngoặt như sự kiện bạo loạn Stonewall năm 1969 tại New York mở đầu cho phong trào đấu tranh vì quyền của người đồng tính, nhận thức xã hội trên thế giới đã dần có những chuyển biến theo hướng cởi mở. Tại Việt Nam, xu hướng hội nhập và sự phát triển xã hội thúc đẩy nhu cầu được sống thực với bản thân của người đồng tính, song những rào cản tâm lý và định kiến xã hội vẫn tồn tại dai dẳng.
Dẫn chứng từ nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm Sáng kiến Sức khỏe và Dân số (CCIHP) về bạo lực và phân biệt đối xử học đường đối với người đồng tính, chuyển giới và liên giới tính cho thấy: 40,7% đối tượng tham gia từng bị bạo lực và phân biệt đối xử tại trường học. Các hình thức phổ biến gồm bị gọi một cách xúc phạm (80,7%), bị đặt biệt danh xúc phạm (69,3%), bị châm chọc mỉa mai về cách đi đứng, ăn mặc hay tình cảm cùng giới (66%), bị đánh đập để lại vết thâm (18,9%) và bị sờ nắn bộ phận sinh dục ngoài ý muốn (18,4%). Hậu quả khiến 40,6% học sinh không thể tập trung học tập, 42,8% luôn căng thẳng và 34,9% từng có ý định tự tử. Thực tế cho thấy nhiều nhà giáo dục còn lúng túng trong ứng xử, thậm chí có hành vi ngăn cấm, cản trở học sinh bộc lộ bản thân. Do đó, việc nghiên cứu thực trạng nhận thức về ĐTLA của sinh viên sư phạm – đội ngũ nhà giáo tương lai – mang tính cấp thiết nhằm xây dựng nền tảng thái độ và hành vi giáo dục đúng đắn.
Mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức về đồng tính luyến ái của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất và thực nghiệm một số giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh về đồng tính luyến ái.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu một số vấn đề lý luận của đề tài như: nhận thức, giới tính, đồng tính luyến ái.
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM về đồng tính luyến ái.
- Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM về đồng tính luyến ái.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái.
- Khách thể nghiên cứu thực trạng: 400 sinh viên thuộc các khối Xã hội, Tự nhiên và Đặc thù tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
- Khách thể nghiên cứu thực nghiệm: 15 sinh viên Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung vào phương diện nhận thức của sinh viên trong không gian Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
Giả thuyết nghiên cứu:
- Đa số sinh viên có nhận thức về đồng tính luyến ái ở mức độ Nhớ.
- Có sự khác biệt về nhận thức của sinh viên theo các yếu tố: khối học, năm học, giới tính và quê quán.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm công cụ
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên các khái niệm tâm lý học và giới tính học:
- Nhận thức và các mức độ nhận thức: Tác giả tiếp cận khái niệm nhận thức qua định nghĩa của Hoàng Phê, Vũ Dũng và Phạm Minh Hạc, xác định nhận thức là quá trình tâm lý phản ánh hiện thực khách quan thông qua hai giai đoạn: nhận thức cảm tính (cảm giác, tri giác) và nhận thức lý tính (tư duy, tưởng tượng).
- Thang cấp độ tư duy: Đề tài vận dụng thang cấp độ tư duy của Benjamin Bloom (1956) gồm 6 bậc (Biết, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Tổng hợp, Đánh giá) và bản hiệu chỉnh của Lorin Anderson (1999) gồm 6 bậc: Nhớ (Remembering), Hiểu (Understanding), Vận dụng (Applying), Phân tích (Analyzing), Đánh giá (Evaluating), Sáng tạo (Creating) để làm khung phân loại mức độ nhận thức của sinh viên.
- Giới, giới tính và tính dục: Tổng hợp quan điểm của Bùi Ngọc Oánh, Nguyễn Văn Đồng, Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Vinh và Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ (APA). Dẫn giải mô hình 4 yếu tố cấu thành tính dục theo cẩm nang PFLAG (Hoa Kỳ/Việt Nam) gồm: Giới tính sinh học (Sex), Bản dạng giới (Gender identity), Thể hiện giới (Gender expression) và Xu hướng tính dục (Sexual orientation: dị tính, đồng tính, song tính, vô tính).
- Lịch sử và nguyên nhân của ĐTLA: Khái quát các mốc lịch sử (thuật ngữ do Karl Maria Kertbeny đưa ra năm 1869; DSM-II năm 1952; APA loại bỏ năm 1973/1975; WHO loại bỏ ngày 17/5/1990). Tổng quan các trường phái nguyên nhân gồm: Trường phái sinh học (nghiên cứu song sinh của J. Michael Bailey với tỷ lệ cùng trứng 52%, khác trứng 22%, anh em 11%; chỉ dấu gen Xq28 trên nhiễm sắc thể X của Dean H. Hamer; giả thuyết hoóc-môn androgen thai nhi) và Trường phái tâm lý học (thuyết phân tâm của Sigmund Freud về mặc cảm Oedip/Electra; nghiên cứu của Bell, Weinberg và Hammersmith năm 1981).
- Đặc điểm tâm lý sinh viên sư phạm: Tiếp cận lý thuyết phát triển xã hội của Bianka Zazzo và đặc trưng hoạt động của sinh viên (học tập chuyên ngành, nghiên cứu khoa học, hoạt động chính trị - xã hội, giao tiếp).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Khóa luận kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Thu thập, tổng quan sách báo, tạp chí chuyên ngành và các công trình khoa học trong và ngoài nước liên quan đến ĐTLA và nhận thức.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Tiến hành qua 2 giai đoạn (khảo sát thử nghiệm và bảng hỏi chính thức) trên mẫu khảo sát 400 sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM.
- Phương pháp phỏng vấn: Trực tiếp trao đổi, phỏng vấn sâu sinh viên vào giờ giải lao hoặc tan học để thu thập nhận định định tính về thái độ và quan điểm đối với ĐTLA.
- Phương pháp thực nghiệm: Thiết kế mô hình đo lường trước và sau tác động (Pre-test / Post-test) trên nhóm 15 sinh viên Khoa Địa lý thông qua việc cung cấp cẩm nang và tờ thông tin kiến thức về ĐTLA.
- Phương pháp thống kê toán học: Nhập liệu và xử lý toàn bộ số liệu khảo sát, tương quan và thực nghiệm bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 1 tập trung hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu ĐTLA trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng tỷ lệ người đồng tính phân bổ ổn định trong khoảng 3-5% dân số qua mọi nền văn hóa, tương đương ước tính khoảng 1,65 triệu người trong độ tuổi 15-59 tại Việt Nam.
Về mặt lý luận quốc tế, chương phân tích các mốc y học quan trọng khi ĐTLA được loại bỏ khỏi danh mục bệnh tâm thần (APA năm 1973/1975, WHO năm 1990), cùng các nghiên cứu y sinh học về di truyền (Bailey, Hamer) và tâm lý học xã hội (Bell, Weinberg, Hammersmith).
Về nghiên cứu trong nước, tác giả tổng hợp các khảo sát của Viện iSEE (nghiên cứu 40 người nữ yêu nữ năm 2010; 502 bài báo truyền thông năm 2011 với 41% bài viết thể hiện sự kỳ thị; khảo sát 52 nhân viên y tế và nam quan hệ tình dục đồng giới MSM năm 2011; khảo sát trẻ em đường phố năm 2013; khảo sát trưng cầu ý kiến 68 xã/phường tại 8 tỉnh thành năm 2014) và các nghiên cứu học đường của Vũ Thị Tường Vy (1999), Nguyễn Thị Uyên Thy và Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu (2007), Trịnh Văn Điềm (2013).
Đồng thời, chương làm rõ cấu trúc tâm lý của nhận thức theo 6 bậc thang tư duy Lorin Anderson (Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo), bản chất của 4 yếu tố cấu thành tính dục (Sex, Gender identity, Gender expression, Sexual orientation), các giai đoạn nhận dạng bản thân của người đồng tính (3 giai đoạn chính và 2 giai đoạn phụ theo Nguyễn Văn Đồng) cùng các nét tâm lý - xã hội đặc trưng của sinh viên sư phạm.
Chương 2: Thực trạng nhận thức về đồng tính luyến ái của sinh viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM
Chương 2 trình bày quy trình thể thức nghiên cứu và phân tích số liệu thực trạng thu được từ 400 sinh viên. Cấu trúc phân tích số liệu của chương được khái quát qua các nhóm nội dung:
| Nhóm nội dung khảo sát |
Các biến số và tiêu chí phân tích |
Phương thức đánh giá |
| Đặc điểm mẫu nghiên cứu |
Khối học (Tự nhiên, Xã hội, Đặc thù), năm học (1 đến 4), giới tính (nam, nữ), quê quán |
Thống kê tần số và tỷ lệ phần trăm (Bảng 2.1) |
| Nhận thức về tính dục và ĐTLA |
Giai đoạn xuất hiện xúc cảm giới tính, khái niệm ĐTLA, 4 yếu tố cấu thành tính dục, các xu hướng tính dục |
Thống kê điểm trung bình, so sánh chéo theo khối, năm, giới tính, quê quán (Bảng 2.4 – 2.12) |
| Phản ứng và nhận thức biểu hiện |
Phản ứng khi bản thân hoặc bạn bè là người đồng tính, biểu hiện đặc trưng, nguyên nhân dẫn đến ĐTLA |
Tỷ lệ lựa chọn, phân tích theo nhân khẩu học và kinh nghiệm quen biết (Bảng 2.13 – 2.19) |
| Mức độ nhận thức theo bậc thang đo |
6 cấp độ tư duy Lorin Anderson: Nhớ, Hiểu, Vận dụng, Phân tích, Đánh giá, Sáng tạo |
Điểm số nhận thức trung bình, phân bậc nhận thức toàn mẫu và từng nhóm (Bảng 2.6, 2.7) |
| Quan điểm, hậu quả kỳ thị và tương quan |
Đánh giá hậu quả kỳ thị, mức độ ảnh hưởng trong trường học, quan điểm cá nhân |
Phân tích tương quan giữa nhận thức với mức độ tiếp xúc thông tin, con đường tìm hiểu, mức độ quan tâm (Bảng 2.20 – 2.31) |
Các kết quả khảo sát chỉ ra sự phân hóa nhận thức giữa các khối ngành, năm học và giới tính; đồng thời làm rõ mối liên hệ giữa mức độ tiếp cận thông tin chính thống, mối quan hệ quen biết thực tế với tính khách quan trong quan điểm của sinh viên đối với người đồng tính.
Chương 3: Đề xuất và thực nghiệm một số biện pháp nâng cao nhận thức của sinh viên về đồng tính luyến ái
Chương 3 tập trung vào khâu can thiệp sư phạm:
- Đề xuất biện pháp: Tác giả xây dựng giải pháp biên soạn và phát hành cẩm nang, tờ thông tin chuyên đề cung cấp kiến thức khoa học, khách quan về ĐTLA nhằm bổ khuyết tri thức cho sinh viên.
- Khảo sát tính cần thiết và khả thi: Tiến hành lấy ý kiến đánh giá về mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất (thể hiện tại Bảng 3.1 và Bảng 3.2).
- Quy trình thực nghiệm sư phạm: Khái quát và tổ chức thực nghiệm trên khách thể gồm 15 sinh viên Khoa Địa lý. Tiến hành đo nghiệm mức độ nhận thức trước thực nghiệm (Biểu đồ 3.1), triển khai tác động bằng cẩm nang và tài liệu thông tin, sau đó tiến hành đo nghiệm lại sau thực nghiệm.
- Phân tích kết quả thực nghiệm: Bảng 3.3 (so sánh nhận thức trước và sau thực nghiệm của 11 sinh viên) và Bảng 3.4 (so sánh của 4 sinh viên) chứng minh sự biến chuyển tích cực về điểm số nhận thức ở các bậc tư duy sau tác động.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính kèm số liệu
- Hệ thống hóa toàn diện các căn cứ khoa học quốc tế và trong nước, chỉ rõ ĐTLA là xu hướng tính dục tự nhiên (chiếm tỷ lệ 3-5% dân số), không phải bệnh lý hay rối loạn tâm thần theo công bố chính thức của APA (1973, 1975) và WHO (1990).
- Khảo sát thực trạng 400 sinh viên tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM phản ánh rõ nét mức độ nhận thức của sinh viên phân theo 6 bậc tư duy Lorin Anderson, làm sáng tỏ nhận thức về các yếu tố cấu thành tính dục (Sex, Gender identity, Gender expression, Sexual orientation), nguyên nhân, biểu hiện và hậu quả của sự kỳ thị học đường.
- Thực nghiệm can thiệp trên 15 sinh viên Khoa Địa lý bằng giải pháp phát cẩm nang và tờ thông tin đã mang lại kết quả rõ rệt: điểm số nhận thức về ĐTLA ở giai đoạn sau thực nghiệm có sự gia tăng có ý nghĩa so với giai đoạn trước thực nghiệm (được đối chiếu chi tiết qua nhóm 11 sinh viên và nhóm 4 sinh viên).
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Đề xuất giải pháp cung cấp tài liệu truyền thông, cẩm nang thông tin khoa học về ĐTLA dành riêng cho sinh viên sư phạm nhằm xóa bỏ các hiểu lầm về mặt bản chất và vai giới.
- Kiến nghị nhà trường và các tổ chức đoàn thể chú trọng giáo dục giới tính, đa dạng tính dục trong môi trường đại học sư phạm để trang bị kỹ năng ứng xử sư phạm chuẩn mực cho giáo viên tương lai, góp phần ngăn chặn bạo lực học đường đối với học sinh LGBT.
Đóng góp của đề tài
- Là một trong những công trình bước đầu nghiên cứu chuyên sâu về nhận thức ĐTLA trên đối tượng đặc thù là sinh viên sư phạm – nhóm chủ thể đóng vai trò quyết định trong việc định hình môi trường giáo dục hòa nhập sau này.
- Kết hợp thành công thang đo 6 bậc nhận thức của Lorin Anderson vào việc đánh giá nhận thức giới tính và kiểm chứng hiệu quả can thiệp bằng thực nghiệm sư phạm cụ thể.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Mẫu nghiên cứu thực nghiệm còn nhỏ (15 sinh viên thuộc Khoa Địa lý); phạm vi khảo sát thực trạng mới triển khai trong nội bộ Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Biện pháp tác động thực nghiệm chủ yếu dừng ở việc phát cẩm nang, tờ thông tin đơn lẻ, chưa kết hợp các hình thức can thiệp đa dạng khác như tọa đàm hay tích hợp vào môn học chính khóa.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Dựa trên giới hạn đề tài, hướng mở cần thiết là mở rộng quy mô khảo sát liên trường sư phạm trên toàn quốc, tăng kích thước mẫu thực nghiệm trên nhiều chuyên ngành khác nhau, và xây dựng các chương trình tập huấn kỹ năng xử lý tình huống sư phạm thực tế liên quan đến học sinh LGBT.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh các ngành Tâm lý học, Giáo dục học, Công tác xã hội, Xã hội học; các giảng viên phụ trách giảng dạy tâm lý học lứa tuổi và giáo dục giới tính; cán bộ quản lý giáo dục và chuyên viên tư vấn tâm lý học đường.
- Nội dung có giá trị kế thừa: Khung lý thuyết phân loại nhận thức theo thang 6 bậc Lorin Anderson; hệ thống khái niệm chuẩn mực về tính dục theo PFLAG; quy trình xây dựng phiếu hỏi khảo sát nhận thức về ĐTLA và mô hình thực nghiệm can thiệp truyền thông sư phạm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận sử dụng khung thang đo nào để đánh giá các cấp độ nhận thức của sinh viên?
Tác giả sử dụng thang cấp độ tư duy 6 bậc hiệu chỉnh của Lorin Anderson (1999) – phát triển từ thang Bloom (1956) – gồm các mức độ: Nhớ (Remembering), Hiểu (Understanding), Vận dụng (Applying), Phân tích (Analyzing), Đánh giá (Evaluating) và Sáng tạo (Creating).
2. Khách thể nghiên cứu thực trạng và nghiên cứu thực nghiệm gồm những ai?
Khách thể nghiên cứu thực trạng gồm 400 sinh viên thuộc các khối Tự nhiên, Xã hội và Đặc thù của Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Khách thể nghiên cứu thực nghiệm gồm 15 sinh viên thuộc Khoa Địa lý của trường.
3. Đời sống tính dục của con người được tác giả phân tích gồm những yếu tố cấu thành nào?
Dựa trên tài liệu PFLAG, đời sống tính dục được cấu thành từ 4 yếu tố độc lập: Giới tính sinh học (Sex), Bản dạng giới (Gender identity), Thể hiện giới (Gender expression) và Xu hướng tính dục (Sexual orientation).
4. Nghiên cứu trích dẫn những số liệu thực trạng nào về bạo lực đối với học sinh LGBT tại trường học?
Khóa luận dẫn số liệu từ nghiên cứu năm 2012 của CCIHP: 40,7% người tham gia từng bị bạo lực/phân biệt đối xử tại trường học, trong đó 80,7% bị gọi xúc phạm, 69,3% bị đặt biệt danh xúc phạm, 66% bị mỉa mai, 18,9% bị đánh đập và 34,9% từng có ý định tự tử.
5. Biện pháp thực nghiệm nào đã được triển khai để nâng cao nhận thức cho sinh viên?
Tác giả đã triển khai biện pháp phát cẩm nang và tờ thông tin cung cấp kiến thức chuẩn xác, khoa học về ĐTLA cho nhóm 15 sinh viên Khoa Địa lý, sau đó so sánh điểm nhận thức trước và sau tác động.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Thu Lan đã giải quyết trọn vẹn các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra, từ việc hệ thống hóa cơ sở lý luận tâm lý học về nhận thức và ĐTLA đến việc khảo sát thực trạng trên 400 sinh viên sư phạm. Kết quả nghiên cứu làm rõ các yếu tố chi phối nhận thức của giáo viên tương lai đối với vấn đề đồng tính luyến ái, đồng thời chứng minh tính hiệu quả của giải pháp can thiệp bằng tài liệu truyền thông qua thực nghiệm trên 15 sinh viên Khoa Địa lý. Đây là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác đào tạo sư phạm và tư vấn tâm lý học đường.