Chương 1 CƠ SO LÝ LUẬN Ll. Lịch sử nghiên cửu vẫn dé DTLA Nhiều công trình nghiên cứu đã khang định quan hệ dong tỉnh hiện điện ở hau hết các quốc gia Đông Tây, từ Ai Cập, Trung Hoa, đến Hy Lạp, La Mã, từ thời cổ đại đến thời hiện đại, Có nhiễu nghiên cứu vẻ số lượng người đồng tỉnh nhưng đến hiện tại, chưa có thông kê một cách day đủ do một số nơi những người đồng tính chưa dám công khai. Tuy vậy, con số ôn định trong mọi giai đoạn lịch sử va mọi nên văn hóa nam trong khoảng 3-5% dân số, [9] Thời gian dau, ĐTLA được coi là một chứng bệnh tâm than, tâm lý. Năm 1952, Hiệp hội Tam than học Hoa Kỹ liệt kế ĐTLA trong Số tay thẳng ké và chan đoán các rỗi loạn tắm than (DSM — II) [20] Tuy nhiên, đến năm 1973, Hiệp hội Tâm than hoc Hoa Ky đã rút DTLA ra khỏi danh sách các bệnh ly tam thân.
[20] Năm 1975, Hiệp hội Tâm lý học Hoa Ky cũng loại DTLA khỏi danh sách các bệnh tinh than hay rồi loạn tỉnh cảm. [20] Ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế The giới (WHO) đã chính thức loại đẳng tinh ra khỏi danh sách bệnh. Từ đó đến này, ngày 17/5 đã được chọn là ngảy Quốc tế chẳng ky thị với những người dong tính, song tinh va chuyên giới. [18] Cho đến hiện tại, chưa có cuộc điều tra nào ước lượng người đông tỉnh ở Việt Nam, tuy nhiên, nêu lẫy tí lệ trung bình ma nhiều nhà khoa học thừa nhận la 3% thi số người đẳng tinh va song tinh tạm tính ở Việt Nam trong độ tuổi tử 15 đến 59 vào khoảng 1.65 triệu người.
[18] Có rất nhiều những công trình nghiên cứu khoa học, những cuộc khảo sát, điều tra về DTLA, tìm hiểu nguyễn nhân của DTLA cũng như sự ki thi, các van đẻ về hôn nhân, pháp luật, quyền lợi liên quan đến người đồng tỉnh. Dưới day xin trích dẫn một số công trình nghiên cứu trong giới hạn người nghiên cửu được biết, 1. Các công trình nghiên cứu ngoài nước Có một số công trình nghiên cứu vẻ nguyễn nhân dẫn đến DTLA dang chú ý. Vào những năm 1990, giáo sư J.
Michael Bailey (ĐH Northwestem, Evanston, Hoa Kỷ) tiễn hành nghiên cửu các cặp song sinh cùng trimg và khác trửng cũng như nhận lam con nuôi trong cing một độ tuổi cho kết quả: nếu trong những cặp song sinh nảy có 1 người đồng tinh thi khả năng người kia cũng đồng tinh là 52%, sơ với các cặp song sinh khác trứng, khả năng nay là 22%, đổi với anh chị em đẳng phải không phải song sinh, khả năng này là 11%. Kết quả nghiên cứu chỉ ra cỏ sự ảnh hưởng tương đổi của yếu tổ di truyền trong việc hình thành xu hướng tinh dục. [4] Trong thời gian nảy, một nhóm nghiền cứu y học khác do Dean H.Hamer đứng dau đã tim ra moi liên hệ giữa gen và DTLA. Hamer là nha nghiên cứu độc lập ở viện y tế quốc gia Mỹ.
Hamer tim thay một điểm đặc biệt trên nhánh dai của NST X của hai anh em trai ĐTLA có Xq28 cùng dạng được truyền từ mẹ sang con và thường gặp ở những người đồng tính. [39] Một dự án nghiên cứu tại San Francisco được Bell, Weinberg và Hammersmith công bỏ vào năm 198] nghiên cứu trên một số lớn những người đản ông va dan ba đẳng tính cho kết quả: [4] — Xuhướng tinh dục đa phản được xac lap trong tuổi thanh nién. — Phan lớn những người DTLA đã từng tham gia những hoạt động di tinh luyễn ái khi còn là thanh thiểu nién, nhưng cảm thay những trải nghiệm nay không dễ chịu. — Có một sự tương quan mạnh giữa việc không tuân thủ vai giới trong tudi thiếu niên va phát triển ĐTLA.
— Quan hệ tôi với bê là dự bao có tính tương quan vừa phải với DTLA ở cả nam vả nữ. Một nghiên cứu khác do Buffie, Hatzenbuehler va cộng sự tiễn hành năm 2011, 2012 về van dé “Luật phdp ngắn cam quyền chung sống của người đẳng tinh cùng vari kỳ thị xã hội đã gây ra các vấn đề sức khỏe tâm tri cho người dong tỉnh”. Nhóm nghiên cứu tiễn hanh điều tra trên quan thể người đẳng tính ở Massachusets suốt 12 tháng kế từ khi bang này thông qua luật cho phép kết hôn cùng giới đã chỉ ra xu hướng giảm một cách có ý nghĩa thông kê số lượng lượt khám bệnh, khám tâm than va giảm đáng ké các chi phí chăm sóc sức khỏe. Các công trình nghiên cứu trong nước Có khả nhiều các công trình nghiên cửu vẻ thực trạng cuộc song của những người đồng tính, những khó khăn, thách thức họ gặp phải trong việc hòa nhập với gia đình.
xã hội cũng như những mong muốn bảo vệ quyền lợi được dé cập. Các công trinh nghiên cứu, các cuộc khảo sat, điều tra chủ yếu do Viện nghiên cửu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) thực hiện. Dưởi đây xin trích dan một số cũng trinh tiểu biểu do iSEE thực hiện: Năm 2010, thực hiện nghiên cứu “Sang trong một xã hội di tink: câu chuyén từ 40 người nữ yêu nit - Quan hệ với cha me" [27] Nghiên cứu tim hiểu về cuộc song của những người nữ yêu nữ, những khó khăn của ho và cách họ đổi phó với những khó khăn, thu xếp cho cuộc song của mình. Kết quả cho thấy hơn một nửa người tham gia nghiên cứu đã công khai xu hưởng tinh dục của minh với cha mẹ vả đa số các trường hợp nay do cha mẹ phat hiện hoặc cảm nhận được.
Da sỐ cha me nhìn nhận quan hệ yêu đương cùng giới một cách tiêu cực, cha mẹ cảm thay thất vọng, lo ling, muốn con từ bỏ để sống một cuộc sống dị tính và cỗ gang thay đổi con. Một số người tham gia nghiên cửu đã thử cảm xúc của mình với nam giới, hoặc quyết tâm lay chồng, tuy nhiên, kết quả cho thay họ không có tình cảm yêu đương với người khác giới va xu hướng tinh dục với người cùng giới vẫn không thay đỏi. Năm 2011, iSEE kết hợp với Khoa Xã hội học, Học viện Báo chi Tuyên truyền thực hiện nghiên cửu “Thông điệp truyền thông về ĐTLA trên bảo in và bảo mạng `. [30] Nghiễn cứu tập hợp 502 bai báo về người đồng tinh va các van đẻ liên quan đăng trên các bảo in và báo mạng được dang tải vào năm 2004, 2006 và 2008.
Kết quả cho thấy một số điểm chính như sau: - 79% bai bao dé cập đến địa ban sinh sông của người đồng tính ở thành thị, 4% số bai bảo nói vẻ người đồng tinh ở nông thôn. - 80% số bai bảo có dé cập đến tuổi viết về người đồng tính ở tuổi thanh niên, - _ Người đẳng tinh xuất hiện trên mặt báo với đủ các ngành nghẻ, nhưng tỷ lệ vượt trội là nhóm ngành nghề liên quan đến nghé thuật (30%). - Các khái niệm liên quan đến xu hưởng tinh dục đồng tinh bị sử dụng nhằm lẫn, một số cho rằng người có hành vi tinh dục đồng giới là người đồng tính hoặc một số nhằm lẫn với người chuyển giới. - Chân dung người dong tính được khắc họa với bản năng tình dục khác thường, hanh vi tinh dục không được chap nhận, đời sống tinh dục an chứa nhiều hiểm học, không có khả năng duy tri quan hệ đôi lửa lâu dai va tư cách dao đức không tốt.
- 41% tổng số các bai bao thé hiện sự ky thị. 18% số bai viết thể hiện thái độ tích cực. Cũng trong năm 2011, nghiên cứu “Kj thị và phản biệt đổi xứ của nhân viên ¥ te qua Cung cấp dịch vụ tế cho nam quan hệ tink dục đồng giới” được thực hiện. [28] Có 52 người tham gia nghiên cứu thuộc các đổi tượng: quản lý, bác sỹ, tư vẫn viên, y tá/xét nghiệm viên/nhân viên hành chính, nam có quan hệ tinh dục đẳng giới (MSM) ở địa bản Tp.
HCM và Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong dịch vụ y tế dành cho MSM vẫn ton tại một số hình thức ky thi vả phân biệt đổi xử. Hình thức kỳ thị va phan biệt đổi xử ở các mức khác nhau như: dán nhãn đặc điểm hình đáng bến ngoai, định khuôn các gia trị tiểu cực gắn với MSM, không chắn nhận những hanh vi tỉnh dục va quan hệ tỉnh yêu của MSM. Yếu tỏ liên quan đến ky thị của nhân viên y tế với MSM là chưa có kiến thức day đủ va đúng dan về sự đa dang tinh dục và giới.
Năm 2013, iSEE kết hợp với trung tâm ICS và Tổ chức cứu trợ trẻ em Quốc té thực hiện nghiên cứu “Trẻ em đường phố đồng tinh, song tinh và chuyên giới tai thành pho Hỗ Chi Minh “[L3| Nghién cứu tập trung phản ánh thực trạng trẻ em đường phé là đông tinh, song tính và chuyển giới ở TP. Nghiên cứu cho thay việc bỏ nha di được các em coi 14 lựa chon hợp lý nhất trong hoản cảnh cuộc sống gia đình kinh tế quá khó khăn, hoặc hôn nhân của bo mẹ đổ vỡ va không được sự chăm sóc từ người lớn. Thời điểm bỏ nhả đi thường rơi vào thời kỳ các em ý thức được những đặc điểm giới tính ya xu hướng tinh dục của minh, chịu nhiều phan ứng gay gat tir phía gia đình và cộng đồng và không thé tìm được ai chia sẻ. Những thành kién xã hội tạo sức ép kên trẻ khiển các em cảm thấy không chịu đựng nỗi va quyết định đi bụi với mong muỗn được giải thoát.
Cuộc sống trên đường pho của các em day những hiểm họa từ việc ăn udng that thường, chỗ ngủ không ôn định và không được sự chăm sốc đây đủ, thưởng xuyên đổi mặt với các nguy cơ bị bạo lực và quay rỗi tình dục. Năm 2014, iSEE kết hợp với Viện Xã hội học, Viện Chiến lược va Chính sách Y tế thực hiện nghiên cứu “Trưng cầu ý kiển người dân về hôn nhân cùng giới ”.[29] Nghiên cứu được triển khai trên địa ban 68 xã/phường thuộc 8 tinh thành phố phản ánh tổng quát quan điểm xã hội vẻ việc luật hóa hôn nhân cùng giới, quyền của cặp đôi cùng giới va tac động xã hội có thể có nếu hình thái hôn nhắn này được pháp luật công nhận. Nghiên cứu cho thay những kết quả sau: - Có 30.4% người tham gia có quen biết người đẳng tính, 27.4% người dan biết vẻ hiện tượng hai người cùng giới song chung như vợ chong. - Phim ảnh và internet là nguồn thông tin chính về người dong tinh vả quan hệ cùng giới, có 66.2% người dân biết đến DTLA qua kênh nay.7% người din cho rằng việc hợp pháp hóa hôn nhãn cùng giới không ảnh hưởng đến gia đình va 63.