Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Nâng cao năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV TBYT 130 Armephaco” Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về năng suất lao động trong doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV TBYT 130 Armephaco Chương 4: Giải pháp nâng cao năng suất lao động tại Công ty TNHH MTV TBYT 130 Armephaco 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TÓM LƯỢC MÔT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NÂNG CAO NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan trực tiếp đến nâng cao năng suất lao động trong doanh nghiệp 2.1 Khái niệm lao động Theo Văn phòng Quốc hội, Cơ sở dữ liệu Bộ luật Lao động [6, 1994], Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là điều kiện chủ yếu tồn tại của xã hội loài người, là cơ sở của sự tiến bộ về kinh tế, văn hóa xã hội. Nó là nhân tố quyết định bất cứ quá trình sản xuất nào.
Như vậy động lực của quá trình phát triển kinh tế, xã hội quy tụ lại là ở con người. Con người với lao động sáng tạo của họ đang là vấn đề trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế, xã hội. Vì vậy, phải thực sự giải phóng sức sản xuất, khái thác có hiệu quả các tiềm năng thiên nhiên, trước hết là giải phóng người lao động, phát triển kiến thức và những khả năng sáng tạo của con người. Vai trò của người lao động đối với phát triển nền kinh tế đất nước là rất quan trọng.
Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra các sản phẩm phục vụ cho các nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động là hoạt động đặc trưng nhất, là hoạt động sáng tạo của con người.Mác, lao động là hoạt động cơ bản của con người. Trong các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,… Tuỳ theo lĩnh vực, tính chất hoạt động mà lao động được phân chia thành lao động sản xuất kinh doanh, lao động khoa học, lao động văn hoá, nghệ thuật,… Những người tham gia hoạt động trong các lĩnh vực của đời sống xã hội được gọi là người lao động. Trong kinh tế học, lao động được hiểu là một yếu tố sản xuất do con người tạo ra và là một dịch vụ hay hàng hoá.
Người có nhu cầu về hàng hoá này là người sản xuất còn người cung cấp hàng hoá này là người lao động. Giá các của lao động là tiền công thực tế mà người sản xuất trả cho người lao động. Mức tiền công chính là mức giá của lao động. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Lao động là hoạt động có mục đích của con người, là quá trình sức lao động tác động lên đối tượng lao động thông qua tư liệu sản xuất nhằm tạo nên những vật phẩm, những sản phẩm theo mong muốn.
Vì vậy, lao động là điều kiện cơ bản và quan trọng nhất trong sự phát triển của xã hội loài người.Phạm Công Đoàn – TS.Nguyễn Cảnh Lịch [tr131, 2013], Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp Thương mại: “Lao động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa. Bao gồm lao động thực hiện quá trình mua bán, vận chuyển, đóng gói, chọn lọc, bảo quản và quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Mục đích lao động của họ là nhằm đưa hàng hóa từ lĩnh vực sản xuất đến lĩnh vực tiêu dùng”. Như vậy, Lao động trong doanh nghiệp thương mại là bộ phận lao động xã hội cần thiết được phân công thực hiện quá trình lưu thông hàng hóa.2 Phân loại lao động Căn cứ vào tính chất công việc mà người lao động đảm nhận, lao động của doanh nghiệp cũng như từng bộ phận trong doanh nghiệp được chia thành 2 loại: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp.
- Lao động trực tiếp: gồm những người trực tiếp tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm hay trực tiếp thực hiện các công việc dịch vụ nhất định. Theo nội dung công việc mà người lao động thực hiện, loại lao động trực tiếp được chia thành: Lao động sản xuất kinh doanh chính, lao động sản xuất kinh doan phụ trợ, lao động của các hoạt động khác. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động trực tiêp được phân thành các loại: + Lao động có tay nghề cao: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn và có nhiều kinh nghiệm trong công việc thực tế, có khả năng đảm nhận các công việc phức tạp đòi hỏi trình độ cao. + Lao động có tay nghề trung bình: Gồm những người đã qua đào tạo chuyên môn, nhưng thời gian công tác thực tế chưa nhiều hoặc những người chưa được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nhưng có thời gian làm việc thực tế tương đối lâu, được trưởng thành do học hỏi từ thực tế.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Lao động gián tiếp: Gồm những người chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Theo nội dung công việc và nghề nghiệp chuyên môn, loại lao động này được chia thành: Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính. Theo năng lực và trình độ chuyên môn, lao động gián tiếp được phân thành các loại: + Chuyên viên chính: Là những người có trình độ từ đại học trở lên có trình độ chuyên môn cao, có khả năng giải quyết các công việc mang tính tổng hợp, phức tạp. + Chuyên viên: Cũng là những người lao động đã tốt nghiệp đai học, trên đại học, có thời gian công tác tương đối lâu, trình độ chuyên môn tương đối cao.
+ Cán sự: Gồm những người mới tốt nghiệp đại học, có thời gian công tác thực tế chưa nhiều. + Nhân viên: Là những người lao động gián tiếp với trình độ chuyên môn thấp, có thể đã qua đào tạo các trường lớp chuyên môn, nghiệp vụ hoặc chưa qua đào tạo.2 Năng suất lao động 2.1 Khái niệm Năng suất lao động là chỉ tiêu đo lường hiệu quả sử dụng lao động, đặc trưng bởi quan hệ so sánh giữa một chỉ tiêu đầu ra (kết quả sản xuất) với lao động để sản xuất ra nó. Năng suất lao động là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới sự cạnh tranh, đặc biệt, năng suất lao động phản ánh yếu tố chất lượng người lao động – yếu tố cốt lõi của sự phát triển trong cạnh tranh toàn cầu, sự phát triển của khoa học công nghệ và nền kinh tế tri thức hiện nay. Năng suất lao động phản ánh năng lực tạo ra của cải, hay hiệu suất của lao động cụ thể trong quá trình sản xuất, đo bằng số sản phẩm, lượng giá trị sử dụng ( hay lượng giá trị) được tạo ra trong một đơn vị thời gian, hay đo bằng lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm.
Năng suất lao động là chỉ tiêu quan trọng nhất thể hiện tính chất và trình độ tiến bộ của một tổ chức, một đơn vị sản xuất, hay của một phương thức sản xuất. Năng suất lao động được quyết định bởi nhiều nhân tố, như trình độ thành thạo của người lao động, trình độ phát triển khoa học và áp dụng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công nghệ, sự kết hợp xã hội của quá trình sản xuất, quy mô và tính hiệu quả của các tue liệu sản xuất, các điều kiện tự nhiên. Theo GS – PTS.Nguyễn Đình Phan [tr6,2009], dịch theo từ điển Oxford, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội: “Năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó”. Theo GS –PTS.
Nguyễn Đình Phan [tr11,2009], dịch theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội: “ Năng suất là đầu ra trên một đơn vị đầu vào được sử dụng. Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động. Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất lao động của nguồn vốn và lao động”.Phạm Công Đoàn – TS.Nguyễn Cảnh Lịch [tr137, 2013], Giáo trình Kinh tế doanh nghiệp Thương mại: “Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian”. Như vậy, Năng suất lao động trong doanh nghiệp thương mại là mức tiêu thụ hàng hóa bình quân của một nhân viên bán hàng trong một đơn vị thời gian.2 Phân loại năng suất lao động: Năng suất lao động có thể được chia theo nhiều tiêu thức khác nhau, thông thường người ta chia làm hai loại là năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội.
Năng suất lao động cá nhân Năng suất lao động cá nhân là hiệu quả sản xuất của cá nhân người lao động trong một đơn vị thời gian. Năng suất lao động cá nahan có vai trò rất lớn trong quá trình sản xuất. Nó thường được biểu hiện bằng đầu ra trên một giờ lao động. Việc tăng hay giảm năng suất lao động cá nhân phần lớn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Tăng năng suất lao động cá nhân có ý nghĩa là giảm chi phí lao động sống dẫn đến làm giảm giá trị cho một đơn vị sản phẩm, giá thành sản xuất giảm, tăng lợi nhuận của công ty. Năng suất lao động cá nhân chủ yếu phụ thuộc vào bản thân người lao động như trình độ, tay nghề, sức khỏe, sự thành thạo trong công việc, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi tác và công cụ lao động mà người lao động đó sử dụng là công cụ thủ công hay cơ khí, là thô sơ hay hiện đại. Năng suất lao động xã hội Năng suất lao động xã hội là mức năng suất chung của một nhóm người hoặc của tất cả cá nhân trong xã hội. Vì vậy có thể khẳng định năng suất lao động xã hội là chỉ tiêu hoàn hảo nhất giúp ta đánh giá chính xác thực trạng công việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng như phạm vi toàn xã hội.