Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu khoa học "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay" là luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử (mã số: 62 22 03 02), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Đặng Nguyên Hà dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Thúy Vân tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (bảo vệ năm 2019, Chủ tịch Hội đồng: PGS. Nguyễn Anh Tuấn).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng tư duy lý luận giữ vai trò định hướng hoạt động nhận thức và cải tạo thực tiễn; như Ph. Ăngghen từng khẳng định, một dân tộc muốn đứng vững trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận. Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tư duy lý luận là công cụ giúp họ hoạch định chủ trương, đường lối, tổ chức điều hành và tổng kết thực tiễn. Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, giữ vị trí chiến lược về chính trị, an ninh và quốc phòng, có đặc thù đa dạng về văn hóa, sắc tộc và tôn giáo. Mặc dù đội ngũ cán bộ cấp tỉnh tại đây đã tích lũy nhiều kinh nghiệm thực tiễn và giải quyết linh hoạt các vấn đề của địa phương, song trước yêu cầu phát triển mới, năng lực tư duy lý luận của một bộ phận cán bộ còn bộc lộ hạn chế. Kinh tế địa phương chuyển dịch chưa mạnh, phương thức sản xuất và hoạt động xã hội còn nặng về tư duy kinh nghiệm. Địa bàn rộng, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, trình độ dân trí không đồng đều cùng tâm lý an phận, bảo thủ, lệ thuộc vào chỉ thị cấp trên đã tạo rào cản cho sự phát triển tư duy lý luận. Do đó, việc nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng nhằm tìm ra giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận cho đội ngũ này là đòi hỏi cấp bách của thực tiễn địa phương.
Mục đích nghiên cứu của luận án: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn năng lực tư duy lý luận và việc nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk, luận án đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao năng lực này, đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nội dung:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu về tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh.
- Nêu và phân tích một số nội dung lý luận chung về năng lực tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh.
- Đánh giá thực trạng nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay, chỉ rõ nguyên nhân và nêu lên những vấn đề đặt ra từ thực trạng đó.
- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh.
- Phạm vi nghiên cứu: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh trong các tổ chức Đảng và chính quyền ở tỉnh Đắk Lắk. Nguồn số liệu khảo sát được thu thập từ các báo cáo đánh giá, tổng kết của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đắk Lắk từ năm 2011 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan theo hai nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trên phương diện lý luận về tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận:
- Các học giả Liên Xô (cũ) tiếp cận tư duy từ góc độ lôgic học và nhận thức luận duy vật biện chứng: M. Ro-zen-tan trong "Nguyên lý lôgic biện chứng" (1962) khẳng định tư duy lôgic là công cụ nhận thức và cải tạo thế giới. E. ILencôv với "Lôgic học biện chứng" (1974) phân tích tư duy như thuộc tính của thực thể và làm rõ bản chất phản ánh hiện thực khách quan của "cái tư tưởng". Ngoài ra còn có D.P. Goócki ("Lôgic học", 1974), I. Anđrâyep ("Lôgic biện chứng", 1979), A. Sep-tu-lin ("Phương pháp nhận thức biện chứng", 1982).
- Các nhà nghiên cứu trong nước tiếp cận bản chất và đặc trưng của tư duy lý luận: Trần Thành (2004) xem tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, nắm bắt và tái tạo hiện thực bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. Phạm Hồng Quý (1998) phân tích bản chất sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần của tư duy lý luận. Bùi Thanh Quất (2001) chỉ ra năm đặc trưng cơ bản gồm tính khoa học, tính sáng tạo, sử dụng tự giác công cụ lý tính, gắn liền với thực tiễn và chỉ đạo thực tiễn. Trần Nhâm (1998) nghiên cứu vai trò của tư duy lý luận trong công cuộc đổi mới. Nguyễn Thanh Tân (2000) làm rõ quy luật vận động của khái niệm trong tư duy lý luận. Nguyễn Bá Dương (2006) và Trần Đình Thỏa (2007) phân tích tư duy biện chứng duy vật như hạt nhân cốt lõi của tư duy lý luận. Nguyễn Thúy Vân (2013) tiếp cận tư duy như một quá trình, một hoạt động hướng tới cái mới. Hoàng Tùng (1987), tập thể tác giả Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2010), Trần Hữu Tiến (1996) bàn về yêu cầu đổi mới tư duy lý luận của Đảng và khắc phục các căn bệnh giáo điều, kinh nghiệm.
- Nghiên cứu về năng lực tư duy và năng lực tư duy lý luận: Nguyễn Ngọc Long (1998) xác định năng lực tư duy là tổng hợp phẩm chất trí tuệ bảo đảm cho hành động sáng tạo. Nguyễn Đình Trãi (2003) phân tích năng lực tư duy lý luận là tổng hợp phẩm chất trí tuệ giúp phát hiện và nhận thức hiện thực nhanh, đúng đắn. Hồ Bá Thâm (2006) và Vũ Văn Viên (2007) phân tích các yếu tố cấu thành năng lực tư duy khoa học và năng lực tư duy của cán bộ lãnh đạo. Trương Giang Long (2002) và Nguyễn Trọng Phúc (2014) làm rõ yêu cầu khách quan của việc phát triển tư duy lý luận đối với năng lực lãnh đạo.
Thứ hai, các công trình nghiên cứu về thực trạng, quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý:
- Đánh giá thực trạng chung: Ngô Đình Xây (1997) chỉ ra đặc trưng của tư duy lý luận nước ta thời kỳ đầu đổi mới là tư duy định tính tiền định lượng, thiên về "lập" yếu về "luận", giao động giữa sách vở giáo điều và kinh nghiệm vụn vặt. Trần Thành (2004, 2008) chỉ rõ ba biểu hiện bất cập của cán bộ cấp tỉnh: hạn chế trong chuyển hóa kiến thức lý luận, biểu hiện giáo điều - kinh nghiệm, và bất cập trong tổ chức và tổng kết thực tiễn. Nguyễn Tĩnh Gia (2005) đề xuất 5 giải pháp cải cách công tác đào tạo lý luận chính trị cho cán bộ cấp tỉnh. Báo cáo tổng kết thực hiện Nghị quyết số 01-NQ/TW của Bộ Chính trị (2002) đề xuất đổi mới nội dung, phương pháp giảng dạy lý luận chính trị.
- Nghiên cứu thực trạng và giải pháp tại các địa phương cụ thể: Dương Minh Đức (2012) nghiên cứu cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng; Nguyễn Thành Tâm (2014) khảo sát tại tỉnh Trà Vinh; Nguyễn Văn Lý (2013) nghiên cứu cán bộ cấp huyện người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; Nguyễn Đức Quyền (2014) khảo sát cán bộ cấp huyện ở tỉnh Lạng Sơn; Trần Thị Yên Ninh (2015) nghiên cứu cán bộ lãnh đạo, quản lý ở tỉnh Khánh Hòa.
| Nhóm công trình |
Tác giả và công trình tiêu biểu |
Nội dung và đóng góp chính |
| Lý luận chung về tư duy và tư duy lý luận |
M. Ro-zen-tan (1962), E. ILencôv (1974), Trần Thành (2004), Phạm Hồng Quý (1998), Bùi Thanh Quất (2001) |
Hệ thống hóa bản chất của tư duy lôgic, tư duy biện chứng; khẳng định tư duy lý luận là hình thức phản ánh bản chất, quy luật của hiện thực. |
| Đổi mới tư duy và năng lực tư duy lý luận |
Hoàng Tùng (1987), Học viện CTQG Hồ Chí Minh (2010), Nguyễn Ngọc Long (1998), Nguyễn Đình Trãi (2003), Vũ Văn Viên (2007) |
Làm rõ tính tất yếu của việc đổi mới tư duy; xác định cấu trúc năng lực tư duy khoa học gồm phương pháp luận, lôgic, vận dụng và tổng kết thực tiễn. |
| Thực trạng và giải pháp đào tạo cán bộ |
Ngô Đình Xây (1997), Trần Thành (2008), Nguyễn Tĩnh Gia (2005), Nghị quyết 01-NQ/TW (2002) |
Phân tích các hạn chế về bệnh kinh nghiệm, giáo điều; đề xuất cải cách nội dung, giáo trình và phương thức giáo dục lý luận chính trị. |
| Khảo sát theo địa bàn cụ thể |
Dương Minh Đức (2012), Nguyễn Thành Tâm (2014), Nguyễn Văn Lý (2013), Nguyễn Đức Quyền (2014), Trần Thị Yên Ninh (2015) |
Đánh giá năng lực tư duy lý luận của cán bộ tại đồng bằng sông Hồng, Trà Vinh, cán bộ dân tộc thiểu số cấp huyện ở Tây Nguyên, Lạng Sơn, Khánh Hòa. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Dù các công trình trước đã nghiên cứu về tư duy lý luận và khảo sát một số nhóm đối tượng cụ thể ở nhiều địa phương, song dưới góc độ Triết học, những nội dung lý luận về đặc thù năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh vẫn cần được phân tích toàn diện hơn. Đặc biệt, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng và giải pháp nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên:
- Các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Trực tiếp là nội dung của Lôgic học mác-xít về tư duy và tư duy lý luận; các quan điểm về công tác xây dựng, chuẩn hóa và phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý trong thời kỳ đổi mới.
Khung khái niệm và phân tích:
- Tư duy lý luận: Sự tái tạo hiện thực bằng con đường lý luận, trong đó chủ thể nhận thức khái quát những mặt bản chất, tính quy luật của hiện thực bằng hệ thống các khái niệm, phạm trù lý luận, có tác dụng chỉ đạo hoạt động thực tiễn.
- Năng lực tư duy: Cấu thành từ ba năng lực bộ phận là ghi nhớ - tái hiện; trừu tượng hóa - khái quát hóa; suy luận - liên tưởng.
- Năng lực tư duy lý luận: Khả năng tư duy khoa học của chủ thể trong việc khái quát hóa những mặt bản chất, tính quy luật của sự vật, hiện tượng ở trình độ lý luận, đồng thời vận dụng sáng tạo lý luận đó vào giải quyết hiệu quả những vấn đề của thực tiễn.
- Khái niệm cán bộ: Sử dụng theo nghĩa cán bộ là người giữ cương vị nòng cốt trong tổ chức, có tác động, ảnh hưởng đến các quan hệ lãnh đạo, quản lý và định hướng sự phát triển của tổ chức.
Phương pháp nghiên cứu: Luận án sử dụng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật cùng hệ thống các phương pháp nghiên cứu liên ngành khoa học xã hội, bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp
- Phương pháp thống nhất lôgic và lịch sử
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc
- Phương pháp khái quát hóa, hệ thống hóa
- Phương pháp thống kê, đối chiếu so sánh và phân tích số liệu văn bản.
Nguồn tư liệu và dữ liệu: Luận án khai thác các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương; tác phẩm kinh điển của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin và Hồ Chí Minh; các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành đã công bố; văn kiện, báo cáo tổng kết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk từ năm 2011 trở lại đây.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chương 1 tiến hành phân loại và phân tích sâu các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai mạch nội dung: các vấn đề lý luận chung về tư duy lý luận và các công trình khảo sát thực trạng, giải pháp đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.
Tác giả rút ra các kết quả cơ bản đã đạt được trong y văn:
- Đa số các tác giả thống nhất quan niệm tư duy lý luận là loại hình tư duy có tính trừu tượng và khái quát cao, hướng tới nhận thức bản chất và quy luật của hiện thực để chỉ đạo thực tiễn.
- Đã bước đầu chỉ ra các phẩm chất đặc thù của người lãnh đạo, quản lý như năng lực nắm bắt, phát hiện và tổng kết thực tiễn để vận dụng lý luận.
- Đã chỉ ra một số biểu hiện hạn chế trong tư duy cán bộ như bệnh kinh nghiệm, tư duy định tính, giáo điều.
- Đã đề xuất các định hướng giải pháp chung về đào tạo lý luận, mở rộng dân chủ và phát triển kinh tế làm tiền đề cho tư duy phát triển.
Đồng thời, Chương 1 xác định rõ hai vấn đề luận án tiếp tục tập trung giải quyết: hoàn thiện hệ thống lý luận về tính đặc thù và các yếu tố tác động đến năng lực tư duy lý luận của cán bộ cấp tỉnh; và tiến hành khảo sát, luận giải thực trạng cụ thể cùng các mâu thuẫn nảy sinh tại tỉnh Đắk Lắk nhằm đưa ra các giải pháp có tính khả thi cho địa phương.
Chương 2: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh – Một số vấn đề lý luận
Chương 2 tập trung luận giải các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết của luận án:
- Bản chất và cấu trúc của tư duy lý luận: Tư duy lý luận là sự phủ định biện chứng đối với tư duy kinh nghiệm; là sản phẩm của bộ óc người thông qua lao động và ngôn ngữ. Cấu trúc tư duy lý luận gồm hai bộ phận cơ bản: tri thức lý luận (phản ánh mối liên hệ bản chất, quy luật của hiện thực) và phương pháp tư duy khoa học (hệ thống nguyên tắc, chuẩn mực, thao tác điều chỉnh hoạt động nhận thức).
- Năng lực tư duy và năng lực tư duy lý luận: Năng lực tư duy lý luận là cấp độ phát triển cao của năng lực tư duy, biểu hiện qua khả năng xử lý thông tin, khái quát hóa, xây dựng tri thức mới và cụ thể hóa lý luận thành phương án hành động thực tiễn.
- Bốn yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực tư duy lý luận:
- Yếu tố năng lực bẩm sinh của chủ thể nhận thức (cấu tạo giải phẫu sinh lý thần kinh là tiền đề cần nhưng không quyết định).
- Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội (môi trường sản xuất, chế độ chính trị, văn hóa quy định nội dung và tính chất của tư duy).
- Quá trình giáo dục và tự giáo dục (giáo dục trang bị hệ thống tri thức, tự giáo dục là phương thức hoàn thiện năng lực trí tuệ tự giác).
- Hoạt động thực tiễn (cơ sở trực tiếp, động lực và tiêu chuẩn kiểm tra chân lý, giúp rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy).
- Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh: Là lực lượng nòng cốt trong việc cụ thể hóa đường lối của Trung ương vào địa phương, giữ vai trò cầu nối giữa Trung ương với cơ sở. Năng lực tư duy lý luận của họ đóng vai trò định hướng xây dựng chính sách, giải quyết các xung đột xã hội, tổ chức và tổng kết thực tiễn địa bàn cấp tỉnh.
- Nội dung, mục đích, chủ thể, phương thức và tiêu chí nâng cao năng lực tư duy lý luận: Làm rõ các phương thức tác động từ bên ngoài kết hợp với nỗ lực tự thân của cán bộ, xác định hệ thống tiêu chí đánh giá dựa trên mức độ hoàn thành nhiệm vụ chính trị và năng lực hoạch định chủ trương phù hợp quy luật khách quan.
Chương 3: Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay - Thực trạng và một số vấn đề đặt ra
Chương 3 đi vào phân tích thực tế địa bàn tỉnh Đắk Lắk:
- Khái quát điều kiện Đắk Lắk và đội ngũ cán bộ: Là địa bàn chiến lược ở Tây Nguyên, diện tích tự nhiên rộng, có đông đồng bào dân tộc thiểu số cùng sinh sống, khí hậu thời tiết khắc nghiệt. Đội ngũ cán bộ cấp tỉnh trưởng thành từ cơ sở, gắn bó mật thiết với nhân dân, tích lũy được khối lượng kinh nghiệm thực tiễn phong phú.
- Những thành tựu và nguyên nhân: Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã quan tâm cử cán bộ tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị; năng lực lãnh đạo, điều hành của cán bộ từng bước được nâng lên, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
- Hạn chế và nguyên nhân:
- Một bộ phận cán bộ còn nặng về tư duy kinh nghiệm cá nhân, xem nhẹ việc nghiên cứu lý luận; xử lý tình huống thực tế còn rập khuôn hoặc tùy tiện.
- Tư duy bảo thủ, an phận, thiếu tính chủ động và sáng tạo; tâm lý thụ động, ỷ lại và phụ thuộc vào sự chỉ đạo của cấp trên.
- Năng lực phân tích, dự báo tình hình và tổng kết thực tiễn còn yếu; việc vận dụng nghị quyết vào địa phương có lúc mang tính hình thức, máy móc.
- Nguyên nhân: Nền kinh tế chậm chuyển biến; môi trường xã hội còn tàn dư của cơ chế tập trung quan liêu; chất lượng công tác giáo dục lý luận chính trị chưa gắn sát với đối tượng lãnh đạo; công tác đánh giá, quy hoạch cán bộ còn bất cập.
- Hai vấn đề mâu thuẫn lớn đặt ra:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải tiếp tục nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh trong tình hình mới với những bất cập trong nội dung và các biện pháp để thực hiện.
- Mâu thuẫn giữa tình hình chính trị phức tạp ở tỉnh Đắk Lắk (hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, vấn đề tôn giáo, dân tộc) với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh.
Chương 4: Một số quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay
Chương 4 xây dựng hệ thống quan điểm chỉ đạo và giải pháp thực hiện:
Ba quan điểm cơ bản:
- Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay phải được tiến hành thường xuyên, liên tục thông qua đào tạo, bồi dưỡng và hoạt động thực tiễn.
- Tạo lập môi trường xã hội dân chủ, kích thích đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk tự giác nâng cao năng lực tư duy lý luận.
- Tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội tạo bước chuyển biến tích cực về đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ và nhân dân.
Bốn nhóm giải pháp chủ yếu:
- Tăng cường đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục lý luận chính trị cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk: Rà soát chương trình học, giảm thuyết trình một chiều, tăng cường thảo luận chuyên đề và xử lý các tình huống thực tiễn địa phương.
- Tăng cường rèn luyện cán bộ qua công tác tổng kết thực tiễn: Đưa cán bộ vào hoạt động thực tế tại cơ sở, giao nhiệm vụ nghiên cứu, tổng kết các mô hình phát triển kinh tế, trật tự xã hội ở buôn làng để rút ra bài học lý luận.
- Mở rộng môi trường dân chủ, tập trung phát triển mạnh kinh tế - xã hội, đổi mới công tác quy hoạch, bổ nhiệm và đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk theo hướng chuyên nghiệp, chất lượng cao: Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong thảo luận chính sách; lấy hiệu quả công việc và năng lực tư duy cụ thể làm thước đo đánh giá, quy hoạch cán bộ.
- Tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh: Bồi dưỡng lập trường tư tưởng kiên định, phòng chống suy thoái tư tưởng chính trị, giúp cán bộ đứng vững trước các luận điệu kích động, diễn biến phức tạp trên địa bàn Tây Nguyên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã làm rõ thêm các nội dung lý luận về bản chất, cấu trúc của tư duy lý luận và năng lực tư duy lý luận; xác định rõ bốn yếu tố tác động (bẩm sinh sinh học, kinh tế - xã hội, giáo dục - tự giáo dục, hoạt động thực tiễn).
- Luận giải vị trí, vai trò, đặc điểm và các tiêu chí phản ánh năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh từ cách tiếp cận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Về mặt thực tiễn:
- Phân tích và luận giải ở khía cạnh Triết học các nguyên nhân sâu xa dẫn đến những hạn chế về năng lực tư duy lý luận của cán bộ cấp tỉnh tại Đắk Lắk, gắn liền với điều kiện địa lý, văn hóa, tập tục và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
- Chỉ rõ hai mâu thuẫn căn bản đang đặt ra trong công tác cán bộ tại tỉnh Đắk Lắk: mâu thuẫn giữa yêu cầu nâng cao năng lực với bất cập trong phương thức đào tạo; và mâu thuẫn giữa diễn biến chính trị phức tạp tại địa bàn chiến lược với việc rèn luyện bản lĩnh chính trị của cán bộ.
- Đề xuất hệ thống 3 quan điểm chỉ đạo và 4 nhóm giải pháp có giá trị tư vấn trực tiếp cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk trong việc hoạch định chính sách cán bộ, nâng cao chất lượng lãnh đạo, quản lý.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế:
- Luận án chỉ giới hạn phạm vi khảo sát ở đội ngũ cán bộ cấp tỉnh công tác trong các tổ chức Đảng và chính quyền tại tỉnh Đắk Lắk; chưa mở rộng đánh giá đối với đội ngũ cán bộ cấp cơ sở (huyện, xã) hoặc khối các đoàn thể nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội.
- Số liệu và tài liệu thực tiễn được khai thác chủ yếu thông qua các báo cáo tổng kết, nghị quyết, văn kiện của tỉnh Đắk Lắk từ năm 2011 trở lại đây, do tính chất của một luận án chuyên ngành Triết học, công trình không triển khai các điều tra xã hội học định lượng diện rộng có kiểm định thống kê.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, cấp xã hoặc cán bộ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk.
- Triển khai nghiên cứu so sánh về năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh giữa các địa phương trong khu vực Tây Nguyên (như Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông, Lâm Đồng) nhằm làm rõ sự tương đồng và khác biệt do đặc điểm kinh tế - văn hóa từng tỉnh chi phối.
Giá trị tham khảo
Nghiên cứu có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các đối tượng cụ thể:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên thuộc khối ngành Triết học, Xây dựng Đảng, Chính trị học, Khoa học quản lý: Luận án cung cấp hệ thống luận cứ lý luận và tài liệu tham khảo có giá trị về bản chất tư duy lý luận, phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng đối với năng lực tư duy của người lãnh đạo (đặc biệt là nội dung tại Chương 2).
- Đối với Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Ban Tổ chức Tỉnh ủy Đắk Lắk: Các phát hiện tại Chương 3 và hệ thống giải pháp ở Chương 4 cung cấp cơ sở luận cứ tham khảo trong việc xây dựng quy chế đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, cũng như cải tiến chương trình đào tạo, bồi dưỡng tại Trường Chính trị tỉnh Đắk Lắk.
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước tại vùng Tây Nguyên: Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích trong việc xây dựng các chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phù hợp với điều kiện an ninh, kinh tế và sắc tộc đặc thù của vùng.
Câu hỏi thường gặp
-
Luận án định nghĩa năng lực tư duy lý luận như thế nào?
Theo tác giả, năng lực tư duy lý luận là khả năng tư duy khoa học của chủ thể trong việc khái quát hóa những mặt bản chất, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng ở trình độ lý luận, đồng thời vận dụng sáng tạo lý luận đó vào giải quyết hiệu quả những vấn đề của thực tiễn.
-
Cấu trúc của năng lực tư duy gồm những yếu tố cơ bản nào?
Văn bản luận án khẳng định năng lực tư duy được cấu thành từ ba yếu tố cơ bản: năng lực ghi nhớ, tái hiện; năng lực trừu tượng hóa, khái quát hóa; và năng lực suy luận, liên tưởng.
-
Có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc nâng cao năng lực tư duy lý luận?
Luận án chỉ ra 4 yếu tố tác động:
- Yếu tố năng lực bẩm sinh của chủ thể nhận thức.
- Điều kiện phát triển kinh tế - xã hội.
- Quá trình giáo dục và tự giáo dục của chủ thể tư duy.
- Hoạt động thực tiễn với tư cách là nhân tố trực tiếp làm hình thành và phát triển năng lực tư duy lý luận.
- Luận án chỉ ra hai mâu thuẫn lớn nào từ thực trạng tại tỉnh Đắk Lắk?
Hai mâu thuẫn được xác định tại Chương 3 gồm:
- Mâu thuẫn giữa yêu cầu phải tiếp tục nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh trong tình hình mới với những bất cập trong nội dung và các biện pháp để thực hiện nó.
- Mâu thuẫn giữa tình hình chính trị phức tạp ở tỉnh Đắk Lắk với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của một số cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh.
- Nguồn tư liệu khảo sát thực tế của luận án được giới hạn trong phạm vi thời gian nào?
Số liệu khảo sát và các tư liệu thực tế của luận án được thu thập từ các báo cáo đánh giá, tổng kết của Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đắk Lắk từ năm 2011 trở lại đây (giai đoạn 2011–2019).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Nâng cao năng lực tư duy lý luận của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh ở Đắk Lắk hiện nay" của tác giả Đặng Nguyên Hà là công trình chuyên khảo thuộc chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Bằng phương pháp luận mác-xít và các thao tác nghiên cứu liên ngành, tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận về năng lực tư duy lý luận của cán bộ cấp tỉnh, phân tích thực trạng tư duy kinh nghiệm, bảo thủ và những mâu thuẫn nội tại đang tồn tại trong đội ngũ cán bộ tỉnh Đắk Lắk. Hệ thống 3 quan điểm và 4 nhóm giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi, cung cấp cơ sở khoa học phục vụ công tác xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tỉnh, đáp ứng yêu cầu ổn định và phát triển bền vững của địa phương trong giai đoạn mới.