phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận án gồm 4 chương, 12 tiết. 10 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Các công trình nghiên cứu trên phƣơng diện lý luận về tƣ duy lý luận, năng lực tƣ duy lý luận và nâng cao năng lực tƣ duy lý luận Nghiên cứu về vấn đề tư duy nói chung, tư duy lý luận, năng lực tư duy lý luận và nâng cao năng lực tư duy lý luận được các nhà khoa học cả trong nước và ngoài nước đặc biệt quan tâm với nhiều công trình có giá trị cả về lý luận và thực tiễn. Các học giả nước ngoài, khi nghiên cứu về tư duy chủ yếu đề cập tới khái niệm tư duy khoa học, tư duy biện chứng, phương pháp tư duy hay tư duy lôgic., điều này được thể hiện qua hàng loạt các công trình của các nhà Triết học Xô Viết nửa sau thế kỷ XX.
Chẳng hạn như công trình: ―Nguyên lý lôgic biện chứng‖[89] của M. Đây là một trong những công trình hệ thống hóa căn bản những nội dung của lôgic học biện chứng mác xít với tư cách là khoa học về phương pháp tư duy khoa học. Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của lôgic học, tác giả khẳng định tư duy lôgic là công cụ quan trọng giúp con người có thể nhận thức đúng và cải tạo thế giới có hiệu quả, đồng thời tác giả cũng chỉ ra những quy luật vận động của tư duy trong mối liên hệ không thể tách rời với hiện thực.ILencôv với công trình: ―Lôgic học biện chứng‖ [47] đã dành 2 chương (2 bút ký): Bút ký 2: Tư duy như là thuộc tính của thực thể; bút ký 8: Cách hiểu duy vật về tư duy., để phân tích cách hiểu duy vật về tư duy trên cơ sở phê phán những quan điểm sai lầm của các nhà Triết học trước Mác, đặc biệt là Heghen trong quan niệm về tư duy. Việc coi tư duy như là “cái tư tưởng” là quan niệm rất đặc sắc của E.
ILencôv khi ông cho rằng: ―Cái tư tưởng là hình thức chủ quan của hiện thực khách quan, tức là sự phản ánh của thế giới bên ngoài vào các hình thức hoạt động của con người, vào các hình thức ý thức và ý chí của anh ta‖ [47, 11 z tr.335] từ đó khẳng định tính đúng đắn của lập trường duy vật khi coi tư duy là sự phản ánh hiện thực khách quan một cách đặc thù. Ngoài ra, còn có các công trình như: ―Lôgic học‖ [34, tr.Goócki; ―Lôgic biện chứng‖ [146] của I.Anđrâyep; ―Phương pháp nhận thức biện chứng‖ [91] của A. Những công trình này, tùy ở góc độ tiếp cận, đều có đề cập tới khái niệm tư duy và những đặc điểm cơ bản của tư duy biện chứng. Ở trong nước, nếu khái niệm tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Triết học, tâm lý học, sinh lý thần kinh cao cấp, ngôn ngữ học.
thì khái niệm tư duy lý luận, chủ yếu được nghiên cứu từ góc độ Triết học, với tư cách là các trình độ khác nhau của tư duy: Tư duy kinh nghiệm và tư duy lý luận. Một số công trình đã bước đầu chỉ ra bản chất của tư duy lý luận, năng lực tư duy, năng lực tư duy lý luận, sự vận động của tư duy lý luận và các yếu tố tác động tới năng lực tư duy lý luận. Tác giả Trần Thành với công trình: ―Tư duy lý luận với hoạt động của người cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn‖ [101] cho rằng tư duy lý luận là hình thức cao nhất của tư duy, đó là quá trình tiếp cận, nắm bắt, nhận thức và tái tạo hiện thực khách quan bằng lý luận, bằng hệ thống khái niệm, phạm trù, quy luật. Với tư cách là hình thức cao nhất của tư duy, tư duy lý luận nắm bắt, tái tạo hiện thực khách quan không phải bằng những khái niệm thông thường mà bằng những khái niệm lý luận.
Theo tác giả: ―Những khái niệm này giúp tư duy con người có thể đi sâu vào bản chất sự vật, tìm kiếm và vạch ra quy luật của sự vật, hiện tượng. Do đó, quá trình này không phải là hành động đơn giản, bất chợt, rời rạc mà là có quy trình, có hệ thống mang tính chỉnh thể và tính nghệ thuật cao‖ [101, tr. Tác giả cho rằng, xét về nội dung, cấu trúc tư duy lý luận có 3 nghĩa: Thứ nhất, tư duy lý luận với tư cách là quá trình đang vận động để khám phá, nắm bắt, tái tạo hiện thực; thứ hai, tư duy lý luận được hiểu và sử dụng như là phong cách, cách thức, phương thức 12 z tư duy; thứ ba, tư duy lý luận với tư cách là một kết quả đã có, đã thành hình, như là sản phẩm trí tuệ cao có được nhờ sự tích lũy tri thức trong hoạt động hàng ngày của con người về hiện thực. Trực tiếp bàn về bản chất của tư duy lý luận, tác giả Phạm Hồng Quý trong bài: ―Tư duy lý luận và bản chất của nó‖ [88] cho rằng, tư duy lý luận là sự khái quát hóa lý luận nên tiến gần hơn chân lý khách quan, thoát khỏi sự lệ thuộc trực tiếp vào sự vật.
Tư duy lý luận là sự phản ánh một cách sâu sắc cái bản chất bên trong của sự vật. Xét về bản chất thì tư duy lý luận là quá trình sáng tạo lại hiện thực dưới dạng tinh thần, đi sâu vào nhận thức bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng bằng cách hệ thống hóa những khái niệm, phạm trù khoa học theo những quy luật lôgic chặt chẽ. Tác giả Bùi Thanh Quất trong bài viết: ―Góp thêm một vài suy nghĩ về lý luận nhận thức biện chứng duy vật‖ [82], không chỉ phân tích khái niệm tư duy lý luận mà còn chỉ ra năm đặc điểm của tư duy lý luận. Tác giả định nghĩa: ―Tư duy lý luận là hệ tri thức - hệ tri thức này gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt logic, tạo thành quan niệm hoàn chỉnh phản ảnh bản chất, các quy luật hoạt động và phát triển của khách thể nghiên cứu đang hoạt động sản sinh ra tri thức mới, có khả năng chỉ đạo hoạt động thực tiễn‖ [82, tr.
Tư duy lý luận có những đặc trưng cơ bản như: Tính khoa học; tính sáng tạo; biết sử dụng tự giác bộ công cụ của lý tính là những khái niệm, phạm trù, phán đoán, suy lý, các lý thuyết khoa học và vận hành dưới dạng các phương pháp, biện pháp cụ thể dựa trên các căn cứ khoa học; gắn liền với thực tiễn, chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Tác giả Trần Nhâm trong công trình: ―Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới‖ [72] đã tổng kết, khái quát bối cảnh trên thế giới và ở Việt Nam trong thời kỳ đầu của công cuộc đổi mới để nhấn mạnh, đổi mới tư duy chính là khởi đầu của sự nghiệp đổi mới, trong đó đổi mới tư duy kinh tế là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta trong quá trình đổi mới. Sau khi làm rõ một số nội dung 13 z của tư duy lý luận, tác giả luận bàn nhiều về vai trò của tư duy lý luận, khi cho rằng: ―Mỗi bước phát triển của lý luận được đánh dấu bằng sự ra đời của những luận điểm mới và được thực tiễn thẩm định. Do đó, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn đều nhằm dự báo một cách khoa học các quá trình khách quan đã, đang và sẽ vận động theo đúng xu thế phát triển của nó‖ [72, tr.
Tác giả Nguyễn Thanh Tân trong cuốn sách: ―Lôgic vận động của khái niệm trong tư duy lý luận‖ [96] trên cơ sở phân tích các khái niệm tư duy, tư duy lý luận, tác giả chỉ ra các quy luật vận động cơ bản của khái niệm trong tư duy lý luận, các chiều hướng cơ bản của sự vận động khái niệm trong tư duy lý luận. Theo tác giả, tư duy lý luận là tư duy ở trình độ cao, là sự phản ánh cái bản chất, tính quy luật của đối tượng trong quá trình phát triển. Tư duy lý luận luôn vận động theo khách thể mà nó phản ánh, đồng thời cũng vận động theo những quy luật của riêng nó, biểu hiện thông qua lôgic vận động của các khái niệm theo xu hướng: Sự vận động của khái niệm theo nhiều chiều hướng làm sâu sắc thêm nội hàm và mở rộng ngoại diên; trong tương tác với nhau, các khái niệm vận động theo hướng sản sinh ra khái niệm mới; sự vận động của khái niệm theo hướng bổ sung, đổi mới tri thức và hiện thực hóa trong quan hệ với thực tiễn. Từ nội dung và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu, tác giả rút ra kết luận: Các quy luật và chiều hướng có tính quy luật của sự vận động khái niệm, cũng hợp thành lôgic đổi mới, phát triển tư duy lý luận nói chung.
Do vậy, việc nghiên cứu lôgic vận động của khái niệm là cơ sở để xác định phương hướng và các giải pháp cơ bản nhằm đổi mới, phát triển tư duy lý luận. Khái niệm tư duy lý luận còn được tiếp cận ở góc độ tư duy biện chứng như là hạt nhân cốt lõi của tư duy lý luận. Tác giả Nguyễn Bá Dương trong bài: ―Về đặc trưng của tư duy biện chứng duy vật‖ [22] đã phân tích năm đặc trưng cơ bản của tư duy biện chứng duy vật: “Tư duy biện chứng duy vật là loại hình tư duy phát triển cao nhất so với các hình thức tư duy trong lịch sử; 14 z phản ánh hiện thực đang vận động, biến đổi; phản ánh đúng sự vận động, phát triển và những mâu thuẫn vốn có của thế giới khách quan; tư duy biện chứng có tính khách quan; nó là tư duy khoa học, cách mạng, có tính phê phán và chiến đấu cao” [22]. Tác giả cho rằng, tư duy biện chứng duy vật có vai trò quan trọng trong nhận thức và cải tạo thế giới.
Theo tác giả, tư duy biện chứng duy vật là cơ sở, nền tảng để con người nhận thức và cải tạo thực tiễn; tư duy biện chứng duy vật chính là la bàn định hướng giúp con người nhận thức và hoạt động thực tiễn có hiệu quả.