CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái niệm công nghệ Mặc dù đã được sử dụng khá rộng rãi trên thế giới, song việc đưa ra một định nghĩa hoàn chỉnh về công nghệ lại chưa có được sự thống nhất. Đó là do số lượng các công nghệ hiện có nhiều đến mức không thể thống kê được.
Công nghệ lại hết sức đa dạng, khiến những người sử dụng một công nghệ cụ thể trong những điều kiện và hoàn cảnh không giống nhau sẽ dẫn đến sự khái quát của họ về công nghệ sẽ khác nhau. Bên cạnh đó, sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ làm thay đổi nhiều quan niệm cũ tưởng như vĩnh cửu, cũng là nguyên nhân dẫn đến sự không thống nhất trên. Tuy nhiên, xét trên góc độ khoa học quản lý, việc đưa ra được định nghĩa khái quát về công nghệ là một việc làm mang tính cần thiết, bởi vì không thể quản lý được công nghệ khi chưa biết rõ công nghệ là gì. Hiện nay, công nghệ có rất nhiều khái niệm khác nhau tùy ở mỗi tổ chức mà công nghệ được định nghĩa ở một dạng khác nhau chẳng hạn như: Trong Luật Khoa học và Công nghệ (2000) của Việt Nam đưa ra khái niệm công nghệ: “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Song song đó, cũng tại Việt Nam Luật Chuyển giao công nghệ (2006) khái niệm công nghệ được hiểu là: “Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi nguồn lực thành sản phẩm”. Một số định nghĩa tiêu biểu về công nghệ của các tác giả, các tổ chức trên thế giới như sau: Theo tác giả P. Strunk (1986) “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng những nghiên cứu và cách xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp”. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Sharif (1986) thì cho rằng “Công nghệ bao gồm khả năng sáng tạo, đổi mới và lựa chọn từ những kỹ thuật khác nhau và sử dụng chúng một cách tối ưu vào tập hợp các yếu tố bao gồm môi trường vật chất, xã hội và văn hóa”.
Công nghệ là tập hợp của phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 dạng cơ bản: - Thể hiện ở dạng vật thể (vật liệu, công cụ sản xuất, thiết bị và máy móc, sản phẩm hoàn chỉnh…). - Thể hiện ở dạng con người (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm). - Thể hiện ở dạng ghi chép (bí quyết, qui trình, phương pháp, dữ kiện thích hợp… được mô tả trong các ấn phẩm, tài liệu…). - Thể hiện ở dạng thiết chế tổ chức (dịch vụ, phương tiện truyền bá, công ty tư vấn, cơ cấu quản lý, cơ sở luật pháp…).
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (United Nations Industrial Development Organization – UNIDO): “công nghệ là hệ thống tập hợp kiến thức và kết quả của khoa học ứng dụng nhằm mục đích biến đổi nguồn lực tự nhiên thành những mục tiêu sinh lợi cho xã hội”. Theo quan điểm của Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (Economic and Social Commission for Asia and the Pacific – ESCAP): “công nghệ là kiến thức có hệ thống về qui trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin. Nó bao gồm kiến thức, kỹ năng, thiết bị, phương pháp và các hệ thống dùng trong việc tạo ra hàng hóa và cung cấp dịch vụ”. Quan điểm này đã được thừa nhận là bước ngoặt quan trọng trong khái niệm về công nghệ.
Ramanathan, Giám đốc Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dương, đơn vị trực thuộc ESCAP đã chỉ ra rằng: công nghệ có bốn thành phần là thiết bị, con người, thông tin và tổ chức. + Thành phần thiết bị (Technoware): bao gồm các công cụ, các phương tiện sản xuất thực hiện các hoạt động sản xuất để tạo ra các sản phẩm mong 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thành phần thiết bị gồm hệ thống biến đổi nguyên vật liệu và hệ thống xử lý thông tin. • Hệ thống biến đổi nguyên vật liệu thực hiện các hoạt động cơ học theo thiết kế của máy móc thiết bị.
• Hệ thống xử lý thông tin thực hiện một chuỗi kiểm soát, có thể được xây dựng một cách cục bộ hoặc hoàn toàn trong thành phần thiết bị. Trong một vài trường hợp, nó có thể không có trong thành phần này. Hệ thống gồm ba giai đoạn: nhận biết - phân tích - xử lý. + Thành phần con người (Humanware): là kỹ năng và kinh nghiệm sản xuất biểu hiện về mặt con người của công nghệ.
Tầm quan trọng của kỹ năng dựa trên ba điều cơ bản: • Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình sản xuất và là nguồn gốc giá trị thị trường của các loại hàng hoá. • Con người có trí thông minh (không như máy móc). Do đó, họ có khả năng suy nghĩ, phân tích, sáng tạo và phát triển thông tin cần thiết để tạo ra sự sung túc, giàu có. • Năng suất lao động của con người có thể tăng hoặc giảm do môi trường làm việc.
+ Thành phần tổ chức (Orgaware): đề cập tới sự hỗ trợ về nguyên lý, thực tiễn và bố trí để vận hành hiệu quả việc sử dụng Technoware bởi Humanware nó có thể được thể hiện thông qua các thuật ngữ như nội quy công việc, tổ chức công việc, sự thuận tiện trong công việc, đánh giá công việc và giảm nhẹ công việc. + Thành phần thông tin (Inforware): biểu thị việc tích lũy kiến thức bởi con người. Dù có tổ chức tốt, “con người” cũng không thể sử dụng “máy móc” hiệu quả nếu không có cơ sở “thông tin, tài liệu”. Inforware được chia làm ba loại: • Thông tin chuyên về thiết bị: thông tin cần cho việc vận hành, bảo trì và cải tiến.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com • Thông tin chuyên về con người: thông tin về những hiểu biết và đánh giá về quy trình sản xuất và thiết bị được sử dụng. • Thông tin chuyên về tổ chức: thông tin cần thiết để bảo đảm việc sử dụng hiệu quả, sự tác động qua lại theo thời gian, và sự có sẵn của Technoware và Humanware. Trong phạm vi đề tài Luận văn, tác giả sẽ sử dụng và bám sát khái niệm công nghệ theo quan điểm của Tiến sĩ K. Ramanathan được hiểu: công nghệ là tập hợp của bốn thành phần thiết bị, con người, thông tin và tổ chức.
Bốn thành phần này là một tập hợp không thể thiếu của bất kỳ một công nghệ nào dù là đơn giản hay phức tạp. Chúng tác động qua lại lẫn nhau để tạo ra sự biến đổi mong muốn. Công nghệ truyền hình 1. Truyền hình và lịch sử hình thành công nghệ truyền hình a.
Truyền hình Trong lịch sử hình thành và phát triển lĩnh vực báo chí tại Việt Nam, các loại hình báo chí đều có một đặc điểm chung là muốn truyền tải thông tin đến đối tượng, để thực hiện được điều đó thì cần phải có phương tiện mang thông tin trung gian (Media of Communication) hay gọi tắt là phương tiện truyền thông (Media). Bao gồm của tất cả các thông tin đầu vào, dây chuyền xử lý để có được thông tin đầu ra, và cuối cùng là thông tin được truyền tải đến người thụ hưởng thì gọi là công nghệ truyền thông. Tuy nhiên, vì yêu cầu thúc đẩy sự phát triển của báo chí với động cơ chính là mục tiêu về truyền tải thông tin, mục tiêu đưa thông tin nhanh nhất đến số lượng nhiều nhất các đối tượng khán giả … đã phân loại báo chí Việt Nam thành 04 loại như sau: + Báo in (báo viết): là các ấn phẩm xuất bản và phát hành định kỳ đưa thông tin đến với công chúng. Hình thức của loại báo này được thể hiện trên giấy, có hình ảnh minh họa.
Báo viết là loại báo truyền thống và xuất hiện đầu tiên trong lĩnh vực truyền thông đại chúng. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Báo tiếng (báo nói): thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối là vô tuyến truyền thanh (radio) bằng ngôn ngữ. + Báo mạng (báo điện tử): là loại báo mà người ta đọc nó trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng. bằng cách sử dụng giao diện website trên Internet để truyền tải thông tin bằng bài viết, âm thanh, hình ảnh, các đoạn video gồm cả hình ảnh động và âm thanh (video clip).
Báo điện tử là loại báo mới được xuất hiện trong giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin. + Báo hình (truyền hình): truyền hình ra đời để đáp ứng nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người. Sự phát triển của truyền hình bắt nguồn từ nhu cầu phát triển của báo chí muốn tiếp cận đến đông đảo đối tượng khán giả và khi sự phát triển đã đạt đến khả năng phổ cập rất lớn bởi vai trò phản ánh hiện thực của nó, truyền hình đã thay đổi tính chất, trở thành hoạt động truyền thông đại chúng và là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng. Tuy nhiên tính chất báo chí vẫn còn nguyên và có phần ngày càng được phát huy mạnh mẽ hơn nhờ sự tiến bộ của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin.
Tóm lại, khái niệm truyền hình có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng quan điểm và cách tiếp cận. Trong khuôn khổ phạm vi Luận văn này tác giả sử dụng khái niệm truyền hình là một ngành của công nghệ truyền thông đại chúng và là một bộ phận của lĩnh vực công nghệ thông tin. Lịch sử hình thành công nghệ truyền hình Trải qua nhiều thập niên, công nghệ truyền hình đã đạt được những thành tựu rất to lớn đặc biệt là các công nghệ ghi hình, truyền tải và tái tạo thông tin … đã được ứng dụng và phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, để có được thành tựu như ngày nay thì công nghệ nền tảng cho hoạt động của truyền hình đã trải qua những giai đoạn hết sức khó khăn và phức tạp.
Trong phạm vi Luận văn này tác giả sẽ khái quát lại lịch sử của công nghệ truyền hình theo cách cơ bản nhất. Ý tưởng tái tạo hình ảnh chuyển động bằng điện được Paul G. Nipkow phát triển từ năm 1884 khi ông chế tạo ra chiếc đĩa quay quét hình, qua đó tạo 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.