Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản của nông hộ. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản của nông hộ trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Chương 4: Quan điểm và giải pháp nâng cao năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản của nông hộ trên địa bàn huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NĂNG LỰC TIẾP CẬN THỊ TRƢỜNG TIÊU THỤ NÔNG SẢN CỦA NÔNG HỘ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến đề tài Thứ nhất, nhóm các nghiên cứu về năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm Trần Văn Tự (2011) đã thực hiện nghiên cứu về năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp ở huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Bên cạnh tài liệu thứ cấp được thu thập từ sách, báo, tạp chí, các trang Web, các báo cáo từ các phòng, ban, hội của huyện Kim Động…, tác giả sử dụng số liệu sơ cấp thu thập thông tin qua bảng câu hỏi, các mẫu phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp ở 40 doanh nghiệp nhỏ và vừa theo tỷ lệ các loại hình, ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp.
Tác giả đã chỉ ra năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm của các doanh nghiệp nhỏ và vừa được đánh giá thông qua một số tiêu chí sau: Trình độ của các chủ doanh nghiệp, số lượng và chất lượng của đội ngũ lao động trong doanh nghiệp; Số lượng vốn đầu tư từ các nguồn mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp có thể tiếp cận để phục vụ cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tính bình quân lượng vốn đầu tư trên 1 doanh nghiệp; Mặt bằng của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp sử dụng để tiến hành sản xuất kinh doanh; mức độ thuẩn lợi, khó khăn của DN khi sử dụng mặt bằng; Khả năng cung ứng sản phẩm ra thị trường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nông nghiệp với chất lượng cao hay kém; Hệ thống kênh phân phối và khả năng tiêu thụ sản phẩm của hệ thống kênh phân phối trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa; Tỷ lệ các doanh nghiệp triển khai các hoạt động tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp… 5 Ngụy Thị Ngọc Lan (2011) nghiên cứu khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm của các trang trại trên địa bàn huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang phát hiện những thuận lợi và khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tiêu thụ, từ đó đề xuất giải pháp hữu hiệu nâng cao khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ của các trang trại. Tác giả đã chỉ ra các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận thị trường của trang trại bao gồm các yếu tố thuộc về bản thân chủ trang trại (tuổi, giới tính, trình độ, kinh nghiệm, ý chí và quyết tâm làm giàu từ nghề nông, tham gia các lớp tập huấn về kinh doanh); các yếu tố thuộc về trang trại (vốn, quy mô, đất đai, loại sản phẩm, phương hướng, mục tiêu sản xuất kinh doanh, trang thiết bị phục vụ tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm); Các tác nhân tham gia thu mua, tiêu thụ sản phẩm của trang trại; Hệ thống cơ sở hạ tầng trong vùng; Các chính sách có liên quan đến tiêu thụ sản phẩm của trang trại… Tác giả tiến hành điều tra thu thập thông tin có liên quan đến đề tài ở các trang trại bằng cách dùng bảng câu hỏi lập sẵn kết hợp với phỏng vấn trực tiếp các nội dung liên quan đến đề tài và sử dụng các phần mềm hỗ trợ như Excel để tổng hợp phân tích các số liệu thu được. Vũ Huy Hùng (2021) đã chỉ ra rằng để nâng cao năng lực tiếp cận thị trường tiêu thụ hàng hóa của Việt Nam trước mắt cần tiếp tục đẩy mạnh chương trình xúc tiến thương mại thị trường trong nước, hỗ trợ các doanh nghiệp Việt, hàng Việt hướng về thị trường trong nước và người tiêu dùng Việt. Xây dựng kết nối nhà sản xuất, kinh doanh với nhà phân phối trong nước cũng như có chính sách hỗ trợ cụ thể để mở rộng độ bao phủ hàng hóa, tăng sự hiện diện của hàng Việt trên khắp cả nước.
Cần hỗ trợ và có các chương trình quảng bá thương hiệu và đào tạo, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ; ưu tiên phát triển thị trường trung và dài hạn cho thị trường nội địa; khuyến khích vận động các cơ quan Nhà nước ưu tiên dùng hàng Việt trong mua sắm… 6 Thứ hai, nhóm các nghiên cứu về thị trường tiêu thụ nông sản Ngô Thị Tuyết Mai (2007) đã tập trung làm rõ sự cần thiết phải nâng cao khả năng cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Với nguồn số liệu sử dụng để nghiên cứu trong giai đoạn 1996 đến 2006, tác giả đã cho thấy mặt hàng nông sản có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra khả năng cạnh tranh của mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam còn thấp do chất lượng sản phẩm chưa cao, chủng loại đơn điệu, mẫu mã chưa phong phú,… Có thể nói đây là một nghiên cứu có tính thực tiễn cao khi mà Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày một sâu và rộng. Tuy nhiên, phương pháp thực hiện trong nghiên cứu này còn đơn giản chưa đi sâu để làm rõ khả năng cạnh tranh của nông sản.
Bùi Hữu Đức (2008) cho rằng gia nhập WTO, thị trường nông sản Việt Nam có điều kiện thâm nhập vào thị trường nông sản thế giới, có cơ hội đổi mới công nghệ sản xuất, chế biến nông sản, từ đó tạo tiền đề nâng cao sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới và ngay trong chính thị trường nội địa; đầu tư nước ngoài sẽ gia tăng trong lĩnh vực nông nghiệp. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất đối với thị trường nông sản nước ta khi gia nhập WTO là khả năng cạnh tranh khốc liệt của nông sản sản xuất trong nước với nông sản nhập khẩu có chất lượng cao. Bên cạnh đó, công nghệ sau thu hoạch của nước ta còn khá lạc hậu, tỷ lệ thất thoát sau thu hoạch cao; sản xuất nông nghiệp của nước ta còn rất manh mún, nhỏ bé; sự dao động về giá cả nông sản trên thị trường thế giới luôn ở mức độ cao và xảy ra thường xuyên, chủ yếu do sự bất ổn định của sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở phân tích những cơ hội, thách thức tác giả cũng đã đề xuất một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước, các chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng nông sản nhằm phát triển thị trường nông sản nước ta trong điều kiện gia nhập WTO trong thời gian tới.
7 Nguyễn Minh Sơn (2010) dựa trên việc phân tích, đánh giá thực trạng về xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam nhằm đề xuất giải pháp, kiến nghị để thúc đẩy hoạt động này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Kết quả nghiên cứu đã chỉ rõ kim ngạch xuất khẩu hàng hóa nói chung và nông sản nói riêng của Việt Nam đang có sự tăng lên rõ rệt. Song, trong bản thân hoạt động xuất khẩu nông sản vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định. Bởi vậy, các giải pháp đưa ra ở đây chủ yếu có liên quan đến quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
Nghiên cứu này đã thể hiện được tính thực tiễn nhưng do phương pháp phân tích còn đơn giản nên các giải pháp đề xuất còn mang tính chung chung, chưa cụ thể cho từng mặt hàng nông sản. Nguyễn Văn Hùng (2013) trên cơ sở khái quát về các cam kết (về hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan) của WTO, đã phân tích tình hình tiêu thụ nông sản của Việt Nam trước và sau khi gia nhập tổ chức này. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng tập trung vào việc phân tích các chính sách tiêu thụ nông sản của Việt Nam từ trước và sau khi gia nhập WTO nhằm gợi ý, đề xuất một số kiến nghị và chính sách phù hợp cho hoạt động xuất khẩu nông sản của Việt Nam trong tương lai. Nghiên cứu đã có những đóng góp nhất định trong hoạt động tiêu thụ hàng nông sản của Việt Nam trong thời gian qua.
Nguyễn Quang Thuấn & Đào Thị Hoàng Mai (2013) cho rằng để có được một cơ chế, chính sách đối với các mặt hàng nông sản tốt cần: (i) tiếp cận thực tiễn nhiều hơn để nắm bắt được những khó khăn và bất cập hiện nay để đề ra cơ chế chính sách phù hợp hơn, cơ chế chính sách này có tốt hay không phải dựa trên cơ sở thước đo về hiệu quả và kết quả đi vào thực tiễn của chính sách. (ii) gắn với lợi ích của nông dân, doanh nghiệp với định hướng và qui hoạch của nhà nước, không để quy hoạch chỉ dừng lại trên giấy tờ hay quy hoạch của tỉnh mâu thuẫn với qui hoạch vùng; (iii) tư duy tiếp cận về liên kết trong các chuỗi giá trị của các sản phẩm chủ lực cần phải được 8 xem xét khi xây dựng các chiến lược cũng như quy hoạch của cả vùng và của các tỉnh trong vùng; (iv) rà soát lại việc thực hiện chiến lược phát triển vùng và liên kết vùng, qua đó nghiên cứu thiết kế chính sách liên kết vùng tốt hơn để khai thác được lợi thế so sánh của liên kết vùng trong phát triển các sản phẩm chủ lực. Trần Thế Tuân & Trần Mai Trang (2015) cho rằng Việt Nam là cường quốc về xuất khẩu gạo trong nhiều năm, giá trị xuất khẩu gạo liên tục tăng cả về lượng và chất, đưa mặt hàng gạo trở thành mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước, thúc đẩy tăng trưởng chung của nền kinh tế, khẳng định được vị thế của Việt Nam trên thị trường gạo quốc tế. Tuy nhiên, chất lượng không đồng nhất và tính không ổn định của sản phẩm gạo đang ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của thương hiệu gạo Việt Nam trên thị trường thế giới.