“Không có ranh giới hoặc biên giới trong kỷ nguyên số” ~Karim Rashid~ ĐỖ VĂN HÙNG (Chủ biên) TRẦN ĐỨC HÒA, NGUYỄN THỊ KIM DUNG, BÙI THANH THỦY, NGUYỄN THỊ KIM LÂN, ĐÀO MINH QUÂN, ĐỒNG ĐỨC HÙNG, BÙI THỊ ÁNH TUYẾT, BÙI THỊ THANH HUYỀN, TRẦN THỊ THANH VÂN, TRỊNH KHÁNH VÂN NĂNG LỰC SỐ DIGITAL LITERACY 2022 KHUNG NĂNG LỰC SỐ DÀNH CHO SINH VIÊN A DIGITAL LITERACY FRAMEWORK FOR STUDENTS DigiLit 1.0 CHUYÊN GIA TƯ VẤN: TS. NGHIÊM XUÂN HUY TS. PHẠM HẢI CHUNG BÀ PHẠM THỊ HOÀI THU ÔNG LÊ TRUNG NGHĨA BAN CỐ VẤN: GS. HOÀNG ANH TUẤN GS.
PHẠM QUANG MINH Liên hệ Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam +84 24 3858 3903 flis@vnu.vn http://sim.vn/vi/news/nang-luc-so MỤC LỤC Giới thiệu.9 Bối cảnh và định nghĩa .11 Bối cảnh chuyển đối số và nhu cầu nhân lực số.11 Năng lực số.13 Công dân số.14 Khung năng lực số.15 Mô tả tóm tắt khung năng lực số.16 Các tiêu chuẩn năng lực số.18 Vận hành thiết bị và phần mềm.19 Khai thác thông tin và dữ liệu.23 Giao tiếp và hợp tác trong môi trường số.23 An toàn và an sinh số.40 Sáng tạo nội dung số.45 Học tập và phát triển kỹ năng số.52 Sử dụng năng lực số cho nghề nghiệp.57 Giải thích thuật ngữ.62 Tài liệu tham khảo.77 K hung năng lực số này là kết quả hợp tác giữa Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Tập đoàn Meta trong khuôn khổ chương trình Tư duy thời đại số. Khoa Thông tin - Thư viện là đơn vị chịu trách nhiệm triển khai. TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐHQGHN Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn là đơn vị thành viên sáng lập của Đại học Quốc gia Hà Nội, có lịch sử hơn 75 năm. Là đơn vị đào tạo hàng đầu trong cả nước về lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn.
Năm 2021, Trường có 17 đơn vị đào tạo, 531 cán bộ giảng viên với 31 ngành nghề đa dạng, 8843 sinh viên. Theo bảng xếp hạng của THE năm 2021, Đại học Quốc gia Hà Nội xếp vị trí số 1 Việt Nam, thuộc nhóm 251 - 300 các trường đại học ở các nền kinh tế mới nổi. KHOA THÔNG TIN – THƯ VIỆN Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN là đơn vị dẫn đầu trong cả nước về đào tạo lĩnh vực Quản trị thông tin và thư viện. Khoa hiện có hơn 600 sinh viên và học viên theo học từ cử nhân đến tiến sĩ, với hai ngành chính là Quản lý thông tin và Thông tin - Thư viện.
Mục tiêu phát triển là đơn vị đi đầu trong nghiên cứu khoa học ngành Quản trị Thông tin, Quản trị tri thức và Khoa học Thư viện, đưa ngành Thông tin - Thư viện Việt Nam hội nhập và phát triển hướng tới tương lai số. CHƯƠNG TRÌNH TƯ DUY THỜI ĐẠI SỐ Thông qua việc hợp tác với nhiều chuyên gia trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, chương trình Tư duy thời đại số cung cấp các tài DIGITAL LITERACY 7 nguyên nhằm xây dựng một cộng đồng công dân số có trách nhiệm trên toàn cầu. Những công dân này sẽ được trang bị các kỹ năng để sống trong thế giới số. © USSH-FLIS-META Tài liệu này được xuất bản truy cập mở với giấy phép CC BY-SA 4.
Giấy phép này cho phép người dùng được quyền cập nhật, sửa đổi nội dung của tài liệu này để tạo ra các sản phẩm phái sinh, đồng thời có thể phân phối lại và thương mại hóa. Yêu cầu bắt buộc đối với tác phẩm phái sinh là phải dùng lại giấy phép giống như giấy phép đã cấp cho tác phẩm gốc. Xem chi tiết tại: https://creativecommons. org/licenses/by-sa/4.0/ 8 DIGITAL LITERACY GIỚI THIỆU K hung năng lực số này được xây dựng làm cơ sở nền tảng để phát triển các khóa đào tạo nhằm nâng cao năng lực số cho sinh viên trong thế kỷ 21.
Mục tiêu là giúp sinh viên có được năng lực số cần thiết để sống, học tập, làm việc và tham gia giao tiếp xã hội một cách chủ động, tích cực và an toàn trong môi trường số. Khung năng lực được sử dụng tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV), đồng thời cũng được cung cấp rộng rãi cho tất cả các tổ chức, các đơn vị đào tạo khác làm tài liệu tham khảo phát triển chương trình năng lực số cho từng đối tượng cụ thể. Để đạt mục tiêu này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và đánh giá năng lực số của sinh viên Trường ĐHKHXH&NV để làm cơ sở thực tiễn cho đề xuất khung năng lực, đồng thời kết hợp với việc tham khảo các khung năng lực số đang được sử dụng rộng rãi hiện nay, bao gồm: • Khung năng lực số của Ủy ban châu Âu ban hành năm 2017 (DigComp) • Khung năng lực số của UNESCO ban hành năm 2018 • Khung năng lực số của Ủy ban Liên hợp Hệ thống Thông tin (JISC) ban hành năm 2017 • Khung năng lực số của Hội đồng Thư viện Đại học Úc (CAUL) bản cập nhật năm 2020 • Khung năng lực số của Chính phủ Úc ban hành năm 2020 • Khung năng lực số của Microsoft bản cập nhật năm 2021 • Chương trình dấu chân số của Hiệp hội Internet toàn cầu bản cập nhật năm 2021 • Chương trình tư duy thời đại số của Meta bản cập nhật năm 2021 DIGITAL LITERACY 9 Khung năng lực số này đã được sử dụng để cập nhật nội dung cho học phần Nhập môn năng lực thông tin, xây dựng cuốn tài liệu Hướng dẫn phát triển năng lực số, và phát triển học phần mới Năng lực số nâng cao cho chương trình đào tạo ngành Quản lý thông tin. Khung năng lực được thiết kế thành 7 nhóm năng lực, mỗi một nhóm năng lực có thể được thiết kế thành một module học tập độc lập tương đương một học phần 3 tín chỉ.
Chẳng hạn như Module 1: Vận hành thiết bị và phần mềm có thể phát triển thành học phần Nhập môn tin học ứng dụng, hay Module 2: Khai thác thông tin và dữ liệu có thể phát triển thành học phần Nhập môn năng lực thông tin. Toàn bộ 7 module có thể xây dựng thành một chương trình đào tạo năng lực số cho người học hoặc có thể áp dụng chuẩn đầu ra của khung năng lực số để tích hợp vào các học phần hiện có của chương trình đào tạo, qua đó sẽ nâng cao năng lực số của người học thông qua các học phần này. Khung năng lực số sẽ được cập nhật thường xuyên để phù hợp với bối cảnh kinh tế - xã hội và sự phát triển của khoa học công nghệ. 10 DIGITAL LITERACY BỐI CẢNH VÀ ĐỊNH NGHĨA Bối cảnh chuyển đối số và nhu cầu nhân lực số Thế giới đang bước vào kỷ nguyên của chuyển đổi số - quá trình thay đổi gắn liền với việc ứng dụng công nghệ số vào mọi mặt đời sống xã hội của con người (Henriette et al., 2015): các tài sản vật lý hữu hình đang dần chuyển thành các tài sản số; nguồn nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp đang chịu tác động sâu sắc khi các vị trí nghề nghiệp liên tục biến đổi; việc ra quyết định trở nên đặc biệt phụ thuộc vào quá trình quản trị tri thức và kỹ năng, mạng xã hội và công nghệ di động ảnh hưởng mạnh mẽ lên quá trình vận hành của các tổ chức, doanh nghiệp; năng lực số mang lại cơ hội lớn cho việc mở rộng cũng như tái định nghĩa lại các thị trường kinh doanh.
Thế hệ trẻ, những người sinh ra trong một môi trường được bao quanh bởi công nghệ số, sẽ mang những trải nghiệm, thói quen, hành vi liên quan đến các công nghệ này vào quá trình làm việc tại các tổ chức, doanh nghiệp, nơi các công cụ chia sẻ công việc cùng với mạng xã hội ngày một thắt chặt mối quan hệ giữa người dùng với hệ sinh thái của họ. Báo cáo về chuyển đổi số ở các nước ASEAN đã khẳng định rằng, các chính phủ cần hành động để thích ứng với những tác động từ chuyển đổi số đến nền kinh tế, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến giáo dục, đào tạo năng lực số nhằm đáp ứng những thay đổi trong nhu cầu về nhân lực của các tổ chức, doanh nghiệp (Change & Huynh, 2016). Báo cáo khảo sát về năng lực của người trẻ trong kỷ nguyên số chỉ ra rằng nhu cầu của nhà tuyển dụng về các kỹ năng số đã tăng 200% trong ba năm vừa qua và trong vòng năm năm tới, con số này còn được DIGITAL LITERACY 11 dự báo sẽ tiếp tục tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên, những người trẻ chưa sẵn sàng với những thay đổi đó (Pangrazio, 2019).
Với sự phổ biến của các phương tiện và dữ liệu số, việc phát triển kỹ năng và kiến thức của người học trong lĩnh vực này là điều tối quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tìm kiếm việc làm. Trong chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) được xây dựng và điều phối bởi Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) gần đây, cứ 4 học sinh Úc ở độ tuổi 15 thì có hơn 1 học sinh (27%) cho thấy mức độ thông thạo thấp ở năng lực số (Thomson & De Bortoli, 2012). Hiện nay, chúng ta không có nhiều dữ liệu về năng lực số của sinh viên đại học cũng như nhận thức của chính họ về điểm mạnh, điểm yếu của bản thân. Định nghĩa về năng lực số và ý nghĩa của khái niệm này đối với quá trình dạy học, thực hành vẫn còn là một vấn đề gây tranh cãi (Sibson & Morgan, 2019).
Những thống kê kể trên cho thấy, cần có một lộ trình cho mỗi quốc gia nhằm định nghĩa, đánh giá thực trạng và nâng cao năng lực số cho công dân của mình, đặc biệt đối với nhóm người trẻ, học sinh, sinh viên của các trường đại học, mà bước đi đầu tiên chính là xây dựng một khung năng lực số phù hợp với bối cảnh và điều kiện của quốc gia đó. Việt Nam đang từng bước có những chính sách cụ thể để thúc đẩy chuyển đổi số một cách toàn diện.