Chương 1: Năng lực cạnh tranh xuất khẩu Thuỷ sản Việt Nam: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam. Chương 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam trong điều kiện gia nhập WTO. 9 CHƢƠNG 1 NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU THUỶ SẢN VIỆT NAM: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Các khái niệm và nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh.
Khái niệm về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm về cạnh tranh Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanh nghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc gia vv… điều này chỉ khác nhau ở mục tiêu được đặt ra là quy mô doanh nghiệp hay ở quốc gia. Vào nửa cuối thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tự do kinh tế phát triển ở Anh với lý thuyết của Adam Smith và David Ricardo.
Các lý thuyết này cho rằng phát triển tự do trao đổi hàng hoá sẽ tăng cường sự phân công lao động và chuyên môn hoá ngày càng sâu. Cạnh tranh sẽ làm cân bằng cung cầu, làm cho sự phân phối tài nguyên được hợp lý, làm cho sản phẩm ngày càng tốt và rẻ. Lý thuyết này khẳng định rằng muốn cho cạnh tranh phát triển, Nhà nước phải đề ra các chính sách thích hợp để khuyến khích kinh doanh phát triển cả ở thị trường trong nước và ngoài nước, nhưng Nhà nước không nên can thiệp quá sâu vào cạnh tranh, chỉ nên tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh phát triển. Trong cuốn “Tóm tắt phê phán kinh tế chính trị học” Engels cũng nghiên cứu vấn đề cạnh tranh.
Ông nói, địa tô, lợi nhuận, tiền lương phụ thuộc vào cạnh tranh. Cạnh tranh sinh ra độc quyền, độc quyền lại làm cho cạnh tranh ngày càng sâu sắc hơn. Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch ". Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bản của cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân, và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường.
Quy luật này dựa trên những chênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hành hoá dưới giá trị của nó nhưng vẫn thu được lợi nhuận Từ những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước phát triển, cạnh tranh độc quyền phát triển mạnh, các nhà tư bản cấu kết với Chính phủ để giữ được vị trí lâu dài. Cạnh tranh độc quyền gây bất ổn trong xã hội: trao đổi bất bình đẳng, thất nghiệp tăng, kéo dãn khoảng cách giàu nghèo, lợi nhuận chỉ tập trung vào một số nhỏ nhà tư bản và kìm hãm tốc độ sáng tạo. Tuy nhiên độc quyền không thể xoá bỏ cạnh tranh. Trước năm 1970 của thế kỷ trước, các biện pháp cạnh tranh thường là giá cả, điều kiện mua bán, quảng cáo.
Nhưng sau năm 1970 các biện pháp đó đã nhường chỗ cho cạnh tranh chất lượng, cạnh tranh của sản phẩm mới, kỹ thuật mới, phương pháp quản lý mới, tốc độ cung cấp sản phẩm và dịch vụ đi kèm. Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1): Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất. 1 Hai nhà kinh tế học Mỹ P.Nordhaus trong cuốn kinh tế học (xuất bản lần thứ 12) cho rằng: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường.
Các tác giả trong cuốn "Các vấn đề pháp lý về thể chế và chính sách cạnh tranh kiểm soát độc quyền kinh doanh”, thuộc dự án VIE/97/016 (Dự án hỗ trợ thương mại đa biên) thì cho rằng: Cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trường, để đạt được một mục tiêu kinh doanh cụ thể, ví dụ như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần. Cạnh tranh trong một môi trường như vậy đồng nghĩa với ganh đua. Tuy nhiên, ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận và coi cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội. Do vậy từ những định nghĩa và các cách hiểu không giống nhau trên có thể rút ra các điểm hội tụ chung sau đây: cạnh tranh là sự ganh đua, là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể kinh doanh với nhau trên thị trường hàng hoá cụ thể nào đó nhằm giành dật khách hàng và thị trường, thông qua đó mà tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được lợi nhuận cao.
Như vậy, cạnh tranh xuất hiện khi có nhiều chủ thể có cùng một mục tiêu kinh tế và khi các lợi ích kinh tế không đủ thoả mãn nhu cầu của tất cả các bên tham gia. Trên thực tế có cạnh tranh giữa các nhà sản xuất, giữa những người bán hàng, giữa những người mua, và giữa những người mua với người sản xuất, người bán hàng. Năng lực cạnh tranh Trong quá trình các chủ thể cạnh tranh với nhau, để dành được chiến thắng các chủ thể phải có được năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên hiện nay chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh tranh được thừa nhận một cách phổ biến và nó trở thành đề tài của nhiều cuộc tranh luận.
1 Theo OECD định nghĩa thì “năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác, ngành khác đánh bại về năng lực kinh tế”. Mặc dù có sự khác nhau trong định nghĩa song năng lực cạnh tranh có thể được hiểu là thực lực và lợi thế của chủ thể so với các đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu được lợi ích ngày càng cao cho mình. Như vậy, cạnh tranh là quy luật kinh tế cơ bản trong nền kinh tế thị trường, cùng với quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật lưu thông tiền tệ… góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, muốn tồn tại và phát triển các chủ thể phải không ngừng nâng cao sức cạnh tranh cho mình.
Các chủ thể ở đây có thể là một doanh nghiệp, một ngành hoặc một quốc gia. Tuy nhiên xét cho cùng năng lực cạnh tranh của chúng đều được thể hiện thông qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Các cấp độ cạnh tranh 1. Cạnh tranh quốc gia Sự thịnh vượng của một quốc gia được tạo ra chứ không phải kế thừa.
Nó không phát triển từ sự sẵn có tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động, lãi suất hay giá trị tiền tệ của một quốc gia giống như kinh tế học cổ điển đã khẳng định. Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào năng lực của các ngành trong việc đổi mới và nâng cấp của quốc gia đó. Lợi thế cạnh tranh được tạo ra và duy trì thông qua một quá trình địa phương hoá cao độ. Tất cả những khác biệt về giá trị, văn hoá, cơ cấu kinh tế, định chế và lịch sử 1 của các nước đều đóng góp cho sự thành công về cạnh tranh.
Đây là những khác biệt đáng kể trong các kiểu hình của năng lực cạnh tranh tại mọi quốc gia. Cho đến nay, khái niệm về năng lực cạnh tranh ngành hay doanh nghiệp đã rất rõ ràng nhưng khái niệm về năng lực cạnh tranh của một quốc gia vẫn chưa thống nhất. Một số người xem năng lực cạnh tranh quốc gia như là một hiện tượng kinh tế vĩ mô, được thúc đẩy bởi các biến số như là tỷ giá hối đoái, lãi suất và thâm hụt của chính phủ nhưng Nhật Bản, Ý, Hàn Quốc đều tận hưởng được mức sống gia tăng nhanh chóng cho dù có thâm hụt của chính phủ; Đức và Thuỵ Sĩ cho dù sự tăng giá của đồng nội tệ; Ý và Hàn Quốc cho dù lãi suất cao. Một số người lại lập luận năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào lao động rẻ và dư thừa, nhưng Đức, Thuỵ Sĩ và Thuỵ Điển đều phát triển thịnh vượng ngay cả khi có sự thiếu hụt lao động và tiền lương rất cao.
Một quan điểm khác liên kết khả năng cạnh tranh với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú nhưng Đức, Nhật Bản, Thuỵ Sĩ và Hàn Quốc vẫn rất thành công dù có nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế v.v… Lý thuyết cổ điển giải thích sự thành công của một quốc gia trong những ngành cụ thể được dựa trên các nhân tố sản xuất như đất đai, lao động, tài nguyên thiên nhiên. Các quốc gia đạt được lợi thế so sánh dựa vào nhân tố trong các ngành sử dụng thâm hụt các nhân tố mình dư thừa. Tuy thế, lý thuyết cổ điển đã bị che mờ trong các ngành và nền kinh tế tiên tiến bởi sự toàn cầu hoá của cạnh tranh và quyền năng của công nghệ. Lý thuyết mới ra đời phải chuyển từ lợi thế so sánh sang lợi thế cạnh tranh của một quốc gia.
Lý thuyết này phải phản ánh một khái niệm phong phú về sự cạnh tranh bao gồm các thị trường bị phân khúc, các sản phẩm khác biệt, những khác biệt về công nghệ, và hiệu quả kinh tế tăng theo quy mô. Cạnh tranh ngành Năng lực cạnh tranh của Ngành là khả năng đạt được những thành tích bền vững của các doanh nghiệp (của quốc gia) trong ngành so với đối thủ nước ngoài, mà không nhờ sự bảo hộ hoặc trợ cấp.