Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh xuất khẩu mặt hàng linh kiện điện tử sang thị trường EU của Công ty TNHH BSE Việt Nam 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH XUẤT KHẨU MẶT HÀNG LINH KIỆN ĐIỆN TỬ SANG THỊ TRƯỜNG EU CỦA CÔNG TY TNHH BSE VIỆT NAM 2. Một số lý thuyết cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 2. Khái niệm cạnh tranh Thuật ngữ cạnh tranh thường được sử dụng để đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngành sản phẩm hay quốc gia. Tùy vào mục tiêu nghiên cứu khác nhau người ta có thể đưa ra các khái niệm khác nhau về cạnh tranh.
Có nhiều cách tiếp cận để đưa ra khái niệm cạnh tranh, điển hình là một số quan niệm như sau: Từ điển thuật ngữ kinh doanh Anh - Việt (xuất bản năm 1992) định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (tái bản năm 1997): “Cạnh tranh là hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung – cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất”. Theo Từ điển Tiếng Việt (Tác giả: Viện ngôn ngữ học – Tái bản năm 2010): “Cạnh tranh là cố gắng giành phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như nhau". Theo Luật cạnh tranh (2004), "Cạnh tranh là sự đua tranh về kinh tế giữa các nhà kinh doanh có những lợi ích giống nhau trên cùng thị trường bằng các phương thức khác nhau để giành được nhiều nhất về phía mình khách hàng, thị trường và thị phần của một thị trường, qua đó thu lợi nhuận nhiều hơn." Trong Đại từ điển Kinh tế thị trường (Viện Nghiên cứu và Phổ biển tri thức Bách Khoa, Hà Nội 1998) cũng đưa ra định nghĩa: “cạnh tranh hữu hiệu là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp mà các mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư, đồng thời hoạt động của các đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài, tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý".
10 Theo quan điểm cạnh tranh cổ điển, Cac-Mac – F.Anghen ( tái bản năm 1993) cho rằng: “Cạnh tranh là hình thức đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất hàng hóa dựa theo chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất, nhằm giành giật những điều kiện có lợi nhất về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, chế độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất gây ra cạnh tranh, theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé”, các nhà tư bản đưa ra những biện pháp sử dụng để cạnh tranh là thường xuyên cải tiến kĩ thuật, tăng năng suất lao động, để thu lợi nhuận siêu ngạch". Marx (1987): “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Các nhà kinh tế học Samuelson và Nordhaus (1997) cho rằng: “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các với nhau để giành khách hàng và thị trường”. Theo nhà kinh tế học người Mỹ - Michael Porter (1996): "Cạnh tranh là việc giành giật từ đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, bản chất của cạnh tranh hông phải là tiêu diệt đối thủ mà là doanh nghiệp phải tạo ra và mang lại cho khách hàng những giá trị tăng cao hơn hoặc mới lạ hơn đối thủ cạnh tranh để họ có thể lựa chọn cho mình mà không đến với đối thủ cạnh tranh". Theo Tôn Thất Nguyễn Thiêm (2004): “Cạnh tranh không phải là tiêu diệt đối thủ mà là mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao, mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không lựa chọn đối thủ cạnh tranh”. Theo tác giả Đặng Đức Thành (2010) cho rằng: “Cạnh tranh là một quan hệ kinh tế nảy sinh trong cơ chế thị trường, trong đó các chủ thể kinh tế ganh đua với nhau nhằm giành lấy những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hóa nhằm thu hút khách hàng về phía mình, tối đa hóa lợi nhuận còn khách hàng đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Như vậy, trong luận văn này, có thể hiểu: “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế, bằng mọi biện pháp để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, mục tiêu thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất, mục tiêu cuối cùng là tối đa hoá lợi ích”.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Trên thế giới và ở Việt Nam đã có rất nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh, mỗi học giả có những cách tiếp cận khác nhau nên đưa ra những định nghĩa khác nhau về năng lực cạnh tranh: 11 Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (2002): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện kinh tế quốc tế”. Theo từ điển thuật ngữ chính sách thương mại (1997): Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là không bị doanh nghiệp khác đánh bại về kinh tế, lại có khái niệm cho rằng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nâng cao lợi thế cạnh tranh, hay năng suất lao động”. Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1977): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh, hoặc một nước giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trường tiêu thụ”. Theo quan điểm của UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về thương mại và phát triển)(1999): “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực của doanh nghiệp trong việc giữ vững hoặc tăng thị phần một cách vững chắc hay năng lực hạ giá thành hoặc cung cấp sản phẩm bền, đẹp, rẻ của doanh nghiệp”.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum) (2006), “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một đất nước trong việc đạt được tỉ lệ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người cao và bền vững”. Theo quan điểm của Giorno Durand và cộng sự (1987), Anderton và Dunnett (1987) và Fagerberg (1988): “ Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là lợi thế về giả của hàng hóa/dịch vụ của quốc gia đó trên thị trường quốc tế”. Theo quan điểm của Michael Porter (1990): “Năng lực cạnh tranh là khả năng của một tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hòa các yếu tố kỹ thuật, công nghệ, tổ chức và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường”. Theo quan điểm của tác giả Cho, D.
(1994) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng chiếm lĩnh được vị trí cao trên thị trường thông qua mức lợi ích cao và tăng trưởng liên tục so với đối thủ cạnh tranh. Một quốc gia không thể có NLCT quốc tế nếu chỉ có một hoặc hai ngành công nghiệp thành công và quốc gia đó cần phải tạo ra những ngành có lợi thể CT có sức lan tỏa tới những ngành công nghiệp khác. 12 Theo Pitts và Lagnevik (1997): “Năng lực cạnh tranh chỉ là một khái niệm tương đổi và có tính chất động do các điều kiện về thị trường liên tục thay đổi. Nó liên quan với việc duy trì hoặc tăng thị phần trong tương lai của quốc gia, một ngành, hay một DN.
Theo tác giả Momaya và Ambastha (2004): “Năng lực cạnh tranh đơn giản là khả năng cạnh tranh”. Ngày nay đây là một khái niệm phố biển để chỉ sức mạnh về mặt kinh tế của một quốc gia, một ngành kinh tế hoặc một doanh nghiệp khi so sánh với các đối thủ của nó trong nền kinh tế thị trường toàn cầu mà ở đó hàng hóa, dịch vụ, con người, kỹ năng và ý tưởng có thể dịch chuyển tự do không giới hạn bởi các biên giới địa lý. Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học của tác giả Hữu Khuê Mai (2001): “Năng lực cạnh tranh là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trường”. Theo Bạch Thụ Cường (2002) trong Từ điển thuật ngữ chính sách thương mại: “Năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, một quốc gia không bị doanh nghiệp khác ngành khác, quốc gia khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Dựa vào các định nghĩa trên, trong nghiên cứu này, tác giả đề xuất khái niệm về NLCT như sau: “Năng lực cạnh tranh của một chủ thể kinh tế là khả năng sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả nhằm chiếm vị trí cao trên thị trường được thể hiện thông qua thị phần và danh tiếng so với đối thủ cạnh tranh”. Các cấp độ năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Scott và Lodge (1985) định nghĩa năng lực cạnh tranh quốc gia là khả năng của một quốc gia tạo ra, sản xuất, phân phối các sản phẩm, dịch vụ trên thị trường quốc tế và thu được nguồn lợi tăng lên tử các nguồn lực của nó. Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) tiếp cận khái niệm này cụ thể hơn dựa trên các trụ cột của một quốc gia: “Năng lực cạnh tranh quốc gia là một hệ thống các thể chế, chính sách, quy định tạo nên mức sản lượng của một quốc gia.