Năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam sau khi gia nhập WTO

Luận văn thạc sĩ phân tích năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam sau khi gia nhập WTO, cung cấp cái nhìn sâu sắc và chiến lược phát triển.

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

106
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM KẾT

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

DẪN NHẬP

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH

1.1. Tổng quan tài liệu

1.2. Tình hình nghiên cứu

1.3. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh

1.3.1. Khái niệm cạnh tranh

1.3.2. Khái niệm năng lực cạnh tranh

1.4. Vai trò của cạnh tranh

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp thu thập số liệu

2.2. Thu thập số liệu thứ cấp

2.3. Xử lý số liệu

2.4. Phương pháp phân tích tổng hợp

2.5. Phương pháp so sánh

2.6. Phương pháp phân tích SWOT

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

3.1. Tổng quan về ngành dược phẩm Việt Nam

3.2. Quá trình hình thành và phát triển

3.3. Tác động của việc gia nhập WTO đến ngành dược phẩm Việt Nam

3.4. Thực trạng hoạt động kinh doanh ngành dược Việt Nam

3.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam

3.5.1. Nhu cầu tiêu dùng thuốc

3.5.2. Hệ thống phân phối

3.5.3. Các điều kiện về yếu tố đầu vào sản xuất

3.5.4. Ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan

3.5.5. Đầu tư trực tiếp nước ngoài

3.5.6. Vai trò của nhà nước

3.6. Phân tích năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm

3.6.1. Giá cả sản phẩm và sự biến động về giá

3.6.2. Chất lượng và chủng loại sản phẩm trong nước

3.6.3. Thương hiệu thuốc Việt Nam

3.6.4. Phân tích SWOT

3.6.4.1. Điểm yếu và nguyên nhân (W)
3.6.4.2. Thách thức (T)

3.6.5. Đánh giá về năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm

3.6.6. Phân tích năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm thông qua hệ số lợi thế so sánh biểu hiện

3.7. Đánh giá chung

4. CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH DƯỢC PHẨM VIỆT NAM

4.1. Định hướng phát triển ngành dược phẩm

4.2. Quan điểm, mục tiêu phát triển của ngành dược phẩm Việt Nam

4.3. Những dự báo trong thời gian tới

4.4. Giải pháp nâng cao thị phần

4.5. Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm

4.6. Giải pháp về giá của sản phẩm

4.7. Các giải pháp khác

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam sau WTO

Ngành dược phẩm Việt Nam đã trải qua nhiều thay đổi đáng kể kể từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Việc này không chỉ mở ra cơ hội mới mà còn đặt ra nhiều thách thức cho ngành. Năng lực cạnh tranh của ngành dược phẩm Việt Nam cần được nâng cao để đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế. Sự phát triển của ngành dược phẩm không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của đất nước.

1.1. Tình hình hiện tại của ngành dược phẩm Việt Nam

Ngành dược phẩm Việt Nam hiện đang phát triển với tốc độ trung bình từ 16% đến 18% mỗi năm. Tuy nhiên, dược phẩm nội địa chỉ đáp ứng khoảng 48% nhu cầu trong nước, chủ yếu là các loại thuốc thông thường. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường.

1.2. Vai trò của WTO đối với ngành dược phẩm

Gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội cho ngành dược phẩm Việt Nam, nhưng cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các sản phẩm ngoại nhập. Điều này yêu cầu ngành dược phẩm phải cải thiện chất lượng và giá cả sản phẩm để thu hút người tiêu dùng.

II. Những thách thức đối với năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam

Ngành dược phẩm Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, từ việc thiếu hụt nguyên liệu sản xuất đến sự cạnh tranh từ các sản phẩm nhập khẩu. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh mà còn đến sự phát triển bền vững của ngành.

2.1. Thiếu hụt nguyên liệu sản xuất

Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc vào việc nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất dược phẩm. Điều này không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm. Cần có chính sách hỗ trợ để phát triển nguồn nguyên liệu trong nước.

2.2. Sự cạnh tranh từ sản phẩm ngoại nhập

Sản phẩm dược phẩm nhập khẩu thường có chất lượng cao và giá cả cạnh tranh. Điều này tạo ra áp lực lớn cho các doanh nghiệp dược phẩm trong nước. Cần có chiến lược marketing hiệu quả để nâng cao nhận thức về thương hiệu dược phẩm Việt Nam.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, ngành dược phẩm Việt Nam cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Từ việc cải thiện chất lượng sản phẩm đến việc tối ưu hóa quy trình sản xuất, tất cả đều cần được thực hiện đồng bộ.

3.1. Cải thiện chất lượng sản phẩm

Chất lượng sản phẩm là yếu tố quyết định trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Cần đầu tư vào công nghệ sản xuất hiện đại và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế để đảm bảo chất lượng sản phẩm.

3.2. Tối ưu hóa quy trình sản xuất

Việc tối ưu hóa quy trình sản xuất không chỉ giúp giảm chi phí mà còn nâng cao hiệu quả sản xuất. Cần áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình làm việc để tăng năng suất.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu trong ngành dược phẩm

Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam có thể mang lại nhiều lợi ích. Từ việc tăng trưởng doanh thu đến việc cải thiện chất lượng sản phẩm, tất cả đều có thể đạt được thông qua các giải pháp hợp lý.

4.1. Kết quả từ các nghiên cứu thực tiễn

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam có thể cải thiện năng lực cạnh tranh thông qua việc áp dụng các công nghệ mới và cải tiến quy trình sản xuất. Điều này đã được chứng minh qua các trường hợp thành công trong ngành.

4.2. Ứng dụng các giải pháp vào thực tiễn

Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cần được áp dụng một cách đồng bộ và hiệu quả. Cần có sự phối hợp giữa các doanh nghiệp, nhà nước và các tổ chức nghiên cứu để đạt được kết quả tốt nhất.

V. Kết luận và tương lai của ngành dược phẩm Việt Nam

Ngành dược phẩm Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh là điều cần thiết để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Tương lai của ngành dược phẩm phụ thuộc vào khả năng thích ứng và đổi mới của các doanh nghiệp.

5.1. Tương lai của ngành dược phẩm Việt Nam

Với sự phát triển của công nghệ và nhu cầu ngày càng cao về sức khỏe, ngành dược phẩm Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển. Tuy nhiên, cần phải có những chiến lược rõ ràng để tận dụng những cơ hội này.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Để phát triển bền vững, ngành dược phẩm cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện quy trình sản xuất. Cần có sự hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức quốc tế để đạt được mục tiêu này.

23/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan tài liệu và cơ sở khoa học về năng lực cạnh tranh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Phân tích năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm sau khi Việt Nam gia nhập WTO Chương 4: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam 4 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 1. Tổng quan tài liệu 1. Tình hình nghiên cứ u Ngành dược phẩm đang dần khẳng định vị thế của mình trong nền kinh tế quốc dân. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO thì việc phát triển ngành dược nội địa ngày càng được quan tâm và chú trọng.

Không chỉ có Nhà nước, Bộ Y tế, Cục quản lý dược phẩm mà các doanh nghiệp cũng không ngừng chú ý đến sự phát triển của ngành. Điều này được thể hiện qua những đề án phát triển của ngành, những báo cáo phân tích của các công ty chứng khoán và các chuyên gia. Trong đề án: “Quy hoạch chi tiết phát triển công nghiệp dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030 (2010), Cục quản lý dược đã trình bày sơ lược về vai trò và thực trạng ngành công nghiệp dược Việt Nam, nhận định những xu hướng phát triển ngành dược trong thời gian tới, thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển ngành,… từ đó đưa ra nhứng đánh giá và kế hoạch phát triển ngành giai đoạn đến năm 2020 và tẩm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu cụ thể: đến năm 2020, 100% cơ sở kinh doanh thuốc thuộc hệ thống phân phối thuốc đạt tiêu chuẩn thực hành tốt, 50% cơ sở kiểm nghiệm và 100% cơ sở kiểm định vắc xin và sinh phẩm y tế đạt tiêu chuẩn tốt; vắc xin sản xuất trong nước đáp ứng 100% nhu cầu cho tiêm chủng mở rộng và 30% nhu cầu cho tiêm chủng dịch vụ; 50% bệnh viện tuyến tỉnh, Trung ương có bộ phận dược lâm sàng và 50% bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện tư nhân có hoạt động dược lâm sàng.

5 Dưới góc độ của doanh nghiệp, tháng 03/2010 công ty cổ phần chứng khoán MHB đã đưa ra “Báo cáo phân tích ngành dược” với cái nhìn tổng quát về ngành dược phẩm Việt Nam nói riêng và dược phẩm thế giới nói chung cho tới năm 2009 như lịch sử hình thành ngành dược, thực trạng phát triển,. Theo báo cáo của FPT Securities với tiêu đề “Thuốc Generic chất lượng cao - tương lai của ngành dược Việt Nam”, tháng 04/2014, cũng cho thấy quá trình hình thành và phát triển ngành dược phẩm Việt Nam. Đặc biệt, báo cáo đã đề cập tới “chuỗi giá trị của ngành dược” - một góc nhìn khá mới đối với quá trình sản xuất và phân phối sản phẩm dược. Nhấn mạnh phát triển thuốc Generic (còn gọi là thuốc gốc - là các loại thuốc phát minh đã hết hạn bảo hộ bản quyền) chất lượng cao.

Ngoài ra còn có những báo cáo của các công ty chứng khoán hàng đầu như VietinBankSC, VCB Securities, VPB Securities,. Mỗi một báo cáo lại mang tới một góc nhìn khác nhau về ngành dược phẩm Việt Nam. Nhưng tựu chung lại, các báo cáo đều nhằm mục đích đem lại cái nhìn tổng quát về thực trạng phát triển ngành dược Việt Nam. Tất cả những công trình sách, bài báo, bài viết nghiên cứu trên đây chỉ đề cập ở những góc độ nhất định của năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm Việt Nam.

Tuy nhiên, hiện nay ở Việt Nam vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh ngành dược phẩm sau khi Việt Nam là thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới WTO. Khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm cạnh tranh Song song với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, thuật ngữ “cạnh tranh”, “năng lực cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến trong các nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, 6 sinh thái, thể thao; thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều cách hiểu khác nhau về thuật ngữ cạnh tranh và các cấp độ áp dụng. Tại diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của OECD (2000) sử dụng định nghĩa về cạnh tranh kết hợp các cấp độ cả quốc gia, doanh nghiệp, ngành: “khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.

Theo Porter (1980) trong tác phẩm “chiến lược cạnh tranh” thì: “Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Cùng bàn về khái niệm cạnh tranh, Vũ Trọng Lâm (2006, trang 4) lại cho rằng: “Cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các chủ thể kinh tế ganh đua nhau tìm mọi biện pháp để đạt mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như các điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất.

Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình cạnh tranh là tối đa hóa lợi ích, đối với người sản xuất kinh doanh là lợi nhuận, đối với người tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi”. Tổng hợp các quan niệm khác nhau về cạnh tranh có thể nhận thấy rằng: do đứng ở các góc độ nghiên cứu khác nhau nên quan niệm của mỗi tác giả có sự khác biệt. Tuy nhiên, trong tất cả những khái niệm này đều có những nội hàm chủ yếu tương đồng hoặc giống nhau, đó là: - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa những chủ thể kinh doanh sản phẩm cùng loại và trên cùng một thị trường. 7 - Mục đích cuối cùng của mỗi chủ thể đều là lợi nhuận.

Để đạt được mục đích này thì sự ganh đua trong kinh doanh phải tạo ra được những cơ hội, điều kiện tốt nhất để giành được thị trường và mở rộng thị trường để tăng thị phần trên cơ sở giảm thiểu chi phí sản xuất-tiêu thụ và các chi phí khác, nâng cao chất lượng sản phẩm hoặc cung cấp những sản phẩm có sự khác biệt. Đó là tiêu chí quan trọng nhất phản ánh năng lực cạnh tranh. Từ những nội hàm đồng nhất về quan niệm cạnh tranh nêu trên, tác giả xin được đưa ra quan niệm của mình về cạnh tranh của ngành dược phẩm như sau: “Cạnh tranh của ngành dược phẩm Việt Nam là một phạm trù kinh tế trong nền sản xuất hàng hóa, nó phản ánh sự ganh đua giữa các doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ sản phẩm thuốc trong ngành dược Việt Nam với các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh thuốc nước ngoài tại thị trường Việt Nam và thị trường thế giới. Cuộc ganh đua đó được thực hiện bằng những biện pháp, chiến lược khác nhau nhằm giành lấy những cơ hội, điều kiện thuận lợi hơn đối thủ để chiếm lĩnh thị phần, tối đa hóa lợi nhuận với nhiều công cụ khác nhau.

Trong đó, công cụ giá cả và chất lượng sản phẩm giữ vai trò quan trọng nhất”. Khái niệm năng lực cạnh tranh Xét về năng lực cạnh tranh, Porter cho rằng năng lực cạnh tranh chỉ có nghĩa khi xem xét ở cấp độ quốc gia là năng suất. Theo Krugman (1994, trang 10) thì “năng lực cạnh tranh chỉ ít nhiều phù hợp ở cấp độ doanh nghiệp vì ranh giới cận dưới là rất rõ ràng, nếu công ty không bù đắp nổi chi phí thì hiện tại hoặc sau này sẽ phải từ bỏ kinh doanh hoặc phá sản”. Khi nghiên cứu vấn đề này, Nguyễn Văn Thanh (2004) lại cho rằng năng lực cạnh tranh là khả năng của một công ty tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh các thị trường mới.

8 Theo tạp chí phát triển kinh tế, số 84 tháng 6 năm 2004, Phạm Đình Huỳnh có đưa ra khái niệm như sau: “Năng lực cạnh tranh là khả năng đạt được và duy trì thị phần có lãi”. Còn theo OECD (2000) thì năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho doanh nghiệp, các ngành, các địa phương, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Năng lực cạnh tranh về cơ bản là một khái niệm ở mức doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh nếu có thể sản xuất các sản phẩm, dịch vụ chất lượng cao và chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh ở trong nước và quốc tế.

Năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với kết quả lợi nhuận dài hạn và khả năng nó có thể bồi hoàn cho người lao động, tạo thu nhập cao cho các chủ sở hữu. Năng lực cạnh tranh là thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh khác trong việc thỏa mãn tốt nhu cầu của khách hàng để thu được lợi nhuận ngày càng cao. (Đào Duy Hân, 2007, trang 2-8) Từ tổng hợp và trình bày nội dung khái niệm năng lực cạnh tranh ở trên, tác giả đưa ra quan niệm về năng lực cạnh tranh của ngành dược phẩm Việt Nam như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngành dược phẩm Việt Nam được hiểu là tổng hợp khả năng hoạt động sản xuất – kinh doanh của toàn bộ các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong ngành dược phẩm Việt Nam nhằm duy trì, mở rộng thị phần trên thị trường trong nước và quốc tế so với các doanh nghiệp nước ngoài”. Vai trò của cạnh tranh Nước ta đang có bước chuyển rất nhanh và mạnh về phát triển kinh tế.

Từ một nền kinh tế tập trung bao cấp trì trệ, yếu kém, bảo thủ và quan liêu, việc chuyển mình mạnh mẽ, thay đổi cơ chế quản lý nhằm trở thành một nền 9 kinh tế thị trường đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp. Năm 2007 đã đánh dấu một cột mốc hết sức quan trọng, nước ta chính thức gia nhập Tổ chức thương mại thế giới - WTO .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ