Luận văn thạc sĩ ueh liên kết các ngân hàng thương mại việt nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueh liên kết các ngân hàng thương mại việt nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

2007

127
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1. Xu thế hội nhập

1.2. Tính tất yếu của việc hội nhập kinh tế quốc tế

1.3. Thời cơ và thách thức của hội nhập đối với các nền kinh tế đang phát triển

1.4. Hội nhập trong lĩnh vực tài chính ngân hàng – cơ hội và thách thức đối với Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển

1.5. Năng lực cạnh tranh của các Ngân hàng thương mại

1.6. Những quan điểm về năng lực cạnh tranh

1.7. Những biểu hiện trong năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1.8. Hướng chủ yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh của các ngân hàng trên thế giới

1.9. Sự liên kết giữa các ngân hàng thương mại

1.10. Xu hướng tất yếu của việc liên kết

1.11. Những hình thức liên kết trong hoạt động ngân hàng trên thế giới

1.12. Ưu và nhược điểm của việc liên kết giữa các ngân hàng thương mại

1.13. Các mô hình liên kết tiêu biểu và kinh nghiệm trong việc xây dựng mỗi mô hình

1.14. Liên kết hoạt động giữa các ngân hàng

1.15. Sáp nhập giữa các ngân hàng

1.16. Hình thành các tập đoàn tài chính – ngân hàng

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM TRONG NỖ LỰC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CHUẨN BỊ CHO QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP

2.1. Ngành ngân hàng Việt Nam với WTO

2.2. Nghĩa vụ và quyền lợi của ngành ngân hàng sau khi Việt Nam gia nhập WTO

2.3. Lộ trình mở cửa của hệ thống ngân hàng Việt Nam

2.4. Các cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ ngân hàng (trong biểu cam kết dịch vụ)

2.5. Các cam kết đa phương (thể hiện trong báo cáo gia nhập của Ban công tác)

2.6. Kết quả của những nỗ lực chuẩn bị cho hội nhập của các NHTM Việt Nam

2.7. Vấn đề nhận thức về hội nhập tài chính – ngân hàng

2.8. Cải cách hệ thống ngân hàng Việt Nam

2.9. Thay đổi quan điểm phục vụ khách hàng

2.10. Tiềm lực tài chính

2.11. Phát hành cổ phiếu tăng vốn

2.12. Huy động vốn từ các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài

2.13. Cải thiện các hệ số an toàn tài chính và nâng cao hiệu quả hoạt động

2.14. Tập trung xây dựng thương hiệu ngân hàng

2.15. Tăng tốc hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng

2.16. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực

2.17. Thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các ngân hàng thương mại trong nước

2.18. Thực trạng và quan điểm về việc liên kết của các ngân hàng thương mại Việt Nam

2.19. Thực trạng về sự liên kết giữa các ngân hàng thương mại Việt Nam thời gian qua

2.20. Thực trạng liên kết hoạt động của các NHTM Việt Nam

2.21. Thực trạng việc sáp nhập, hợp nhất giữa các NHTM Việt Nam

2.22. Hướng đi mới: hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng

2.23. Quan điểm về hướng liên kết và khả năng liên kết của các NHTM Việt Nam trong thời gian tới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MÔ HÌNH LIÊN KẾT VÀ GIẢI PHÁP TĂNG TÍNH KHẢ THI TRONG VIỆC LIÊN KẾT GIỮA CÁC NGÂN HÀNG VIỆT NAM

3.1. Mô hình liên kết hoạt động

3.2. Ưu điểm của mô hình

3.3. Nhược điểm của mô hình

3.4. Giải pháp để sự liên kết hoạt động đạt hiệu quả

3.5. Sáp nhập, hợp nhất các ngân hàng

3.6. Nguyên nhân khiến hoạt động sáp nhập ngân hàng chưa phổ biến ở Việt Nam

3.7. Những đề xuất đẩy mạnh việc sáp nhập, hợp nhất giữa các NHTM Việt Nam

3.8. Hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng

3.9. Định hướng và nguyên tắc xây dựng tập đoàn tài chính – ngân hàng Việt Nam

3.10. Lựa chọn mô hình tập đoàn cho các ngân hàng thương mại Việt Nam

3.11. Điều kiện hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng

3.12. Những thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện mô hình tập đoàn

3.13. Giải pháp hỗ trợ sự phát triển của mô hình tập đoàn tài chính - ngân hàng

3.13.1. Các giải pháp vĩ mô

3.13.2. Các giải pháp vi mô

3.14. Tạo lập một nền tảng tài chính vững mạnh

3.15. Cơ cấu lại tổ chức

3.16. Tăng cường năng lực hoạt động và năng lực cạnh tranh

3.17. Quan tâm hơn đến công tác quản lý rủi ro, giám sát hoạt động tập đoàn

3.18. Vấn đề công nghệ thông tin

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

LỜI KẾT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại Việt Nam đang trở thành một vấn đề cấp thiết. Việc nâng cao năng lực này không chỉ giúp các ngân hàng tồn tại mà còn phát triển bền vững trong môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các ngân hàng cần phải cải thiện chất lượng dịch vụ, áp dụng công nghệ mới và xây dựng thương hiệu mạnh mẽ để thu hút khách hàng.

1.1. Định nghĩa và vai trò của năng lực cạnh tranh trong ngân hàng

Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại được hiểu là khả năng cung cấp dịch vụ tốt hơn so với đối thủ. Điều này bao gồm việc cải thiện chất lượng dịch vụ, giảm chi phí và tăng cường sự hài lòng của khách hàng. Các ngân hàng cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường.

1.2. Tình hình hiện tại của ngân hàng thương mại Việt Nam

Ngành ngân hàng Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Sự gia tăng của các ngân hàng nước ngoài và áp lực từ các quy định quốc tế đã tạo ra một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Các ngân hàng cần phải cải cách và đổi mới để không bị tụt lại phía sau.

II. Thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam

Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Những thách thức này bao gồm sự cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài, sự thay đổi nhanh chóng của công nghệ và yêu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng. Để vượt qua những thách thức này, các ngân hàng cần có những chiến lược phù hợp.

2.1. Cạnh tranh từ ngân hàng nước ngoài

Sự gia nhập của các ngân hàng nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã tạo ra áp lực lớn cho các ngân hàng nội địa. Các ngân hàng nước ngoài thường có lợi thế về công nghệ và kinh nghiệm, điều này khiến cho các ngân hàng thương mại Việt Nam cần phải cải thiện nhanh chóng để không bị tụt lại.

2.2. Thay đổi công nghệ và nhu cầu khách hàng

Công nghệ đang thay đổi nhanh chóng, và các ngân hàng cần phải cập nhật để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp cải thiện chất lượng dịch vụ mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh. Các ngân hàng cần đầu tư vào công nghệ thông tin và phát triển các dịch vụ ngân hàng trực tuyến.

III. Phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho ngân hàng thương mại Việt Nam

Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Những phương pháp này bao gồm cải cách tổ chức, đầu tư vào công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Việc thực hiện các phương pháp này sẽ giúp các ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường vị thế trên thị trường.

3.1. Cải cách tổ chức và quản lý

Cải cách tổ chức và quản lý là một trong những phương pháp quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Các ngân hàng cần xây dựng một cơ cấu tổ chức linh hoạt, giúp tăng cường khả năng phản ứng với thị trường và cải thiện hiệu quả hoạt động.

3.2. Đầu tư vào công nghệ và đổi mới dịch vụ

Đầu tư vào công nghệ là yếu tố then chốt giúp các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng công nghệ mới không chỉ giúp cải thiện quy trình làm việc mà còn nâng cao chất lượng dịch vụ, từ đó thu hút được nhiều khách hàng hơn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Việt Nam đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Các ngân hàng đã cải thiện được chất lượng dịch vụ và tăng cường sự hài lòng của khách hàng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc cần làm để duy trì và phát triển hơn nữa.

4.1. Kết quả từ các ngân hàng thương mại lớn

Nhiều ngân hàng thương mại lớn tại Việt Nam đã áp dụng thành công các phương pháp nâng cao năng lực cạnh tranh. Họ đã cải thiện được chất lượng dịch vụ và tăng cường sự hài lòng của khách hàng thông qua việc đầu tư vào công nghệ và cải cách tổ chức.

4.2. Bài học từ các ngân hàng quốc tế

Các ngân hàng thương mại Việt Nam có thể học hỏi từ kinh nghiệm của các ngân hàng quốc tế trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh. Việc áp dụng các mô hình thành công từ nước ngoài có thể giúp các ngân hàng Việt Nam cải thiện hiệu quả hoạt động và tăng cường vị thế trên thị trường.

V. Kết luận và tương lai của ngân hàng thương mại Việt Nam trong hội nhập

Tương lai của các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế phụ thuộc vào khả năng nâng cao năng lực cạnh tranh. Các ngân hàng cần tiếp tục cải cách, đổi mới và áp dụng công nghệ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc liên kết giữa các ngân hàng cũng là một giải pháp quan trọng để tăng cường sức mạnh cạnh tranh.

5.1. Tầm nhìn tương lai cho ngân hàng thương mại Việt Nam

Tầm nhìn tương lai cho ngân hàng thương mại Việt Nam là trở thành những tổ chức tài chính mạnh mẽ, có khả năng cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế. Điều này đòi hỏi sự nỗ lực không ngừng trong việc cải thiện chất lượng dịch vụ và áp dụng công nghệ mới.

5.2. Định hướng phát triển bền vững

Định hướng phát triển bền vững là yếu tố quan trọng giúp các ngân hàng thương mại Việt Nam tồn tại và phát triển trong bối cảnh hội nhập. Các ngân hàng cần chú trọng đến việc xây dựng thương hiệu, phát triển nguồn nhân lực và cải thiện quản lý rủi ro để đảm bảo sự phát triển bền vững.

22/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh liên kết các ngân hàng thương mại việt nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Xu thế hội nhập 1. Tính tất yếu của việc hội nhập kinh tế quốc tế Từ nửa cuối thế kỷ XX, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế mạnh mẽ. Khi hội nhập kinh tế, mỗi quốc gia vẫn tồn tại với tư cách là quốc gia độc lập, tự chủ, tự nguyện lựa chọn các lĩnh vực và tổ chức thích hợp để hội nhập.

Tuy nhiên, khi đã gia nhập vào tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa thì các quốc gia phải tuân thủ các nguyên tắc chung, phải thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của một thành viên, phải điều chỉnh chính sách của mình cho phù hợp với luật chơi chung. Hội nghị lần thứ 29 của Diễn đàn kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sỹ) diễn ra từ 28/01 đến 02/02/1999 đã khẳng định, toàn cầu hóa không chỉ là xu thế tất yếu, nó đã trở thành một thực tế. Xu thế này cuốn hút tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt nước giàu - nước nghèo, nước lớn - nước nhỏ, nước đã phát triển - nước đang phát triển. Có thể thấy, động lực của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã được Karl Marx dự báo từ giữa thế kỷ 19 trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, mặc dù khi ấy khái niệm “toàn cầu hóa” vẫn chưa xuất hiện: “…Thay cho những nhu cầu cũ được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong nước thì nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về.

Thay cho tình trạng cô lập trước kia của các địa phương và dân tộc vẫn tự cung tự cấp, ta thấy phát triển những quan hệ phổ biến, sự phụ thuộc phổ biến giữa các dân tộc. Mà sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế…” (Marx – Engels, tuyển tập, tập 1, NXB Sự thật, Hà Nội 1980, trang 545-546). Việt Nam đang tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy, việc lựa chọn con đường hội nhập kinh tế quốc tế là quyết tâm của Đảng và Chính phủ.

Trong giai đoạn hiện nay, tại Việt Nam, có lẽ “hội nhập” và “tham gia vào quá trình toàn cầu hóa” là những cụm từ được các phương tiện thông tin đại chúng sử dụng phổ biến nhất. Đó cũng là điều dễ hiểu bởi thực tế đã chứng minh sự hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới trong khoảng một thập niên trở lại đây. Đặc biệt, trong năm 2006 vừa qua, “Việt Nam” thực sự là một cái tên được báo chí thế giới ưu ái, nhắc đến một cách trân trọng ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- trang 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liên kết các NHTM Việt Nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- với vai trò là quốc gia chủ nhà, tổ chức thành công Hội nghị APEC và với việc Việt Nam chính thức được gia nhập vào tổ chức thương mại Quốc tế WTO. Việt Nam đã nổi lên như một ví dụ điển hình của thế giới về những bước đi mạnh mẽ, vững chắc và sự khẳng định uy tín trên trường quốc tế.

Để có được những kết quả khả quan như vậy, Việt Nam đã có những bước chuẩn bị rất kỹ lưỡng, nhất là trong việc quán triệt tư tưởng “hội nhập kinh tế quốc tế” là một xu thế tất yếu trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế thế giới. Đã là tất yếu, đã là một xu hướng không thể tránh khỏi thì Việt Nam cần chủ động hòa mình vào dòng chảy này. Hội nhập kinh tế quốc tế là một tất yếu vì những lý do và những biểu hiện cụ thể sau: Thứ nhất, không một quốc gia nào có thể tồn tại, phát triển một cách vững chắc nếu không có những mối quan hệ gắn bó với các quốc gia khác trong và ngoài khu vực, nhất là trong lĩnh vực kinh tế. Đã qua rồi thời kỳ tự cung tự cấp, ngăn sông cấm chợ, bế quan tỏa cảng.

Hiện nay, các quốc gia đều tập trung vào việc chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà quốc gia mình có lợi thế, sau đó tiến hành hoạt động giao thương để tất cả các bên cùng có lợi. Thậm chí, mỗi sản phẩm với những bộ phận, phụ tùng khác nhau có thể là sự hợp tác của rất nhiều quốc gia. Thứ hai, xu thế đối đầu giữa các quốc gia giảm dần, thay vào đó là sự đối thoại hòa bình, hợp tác, với sự can thiệp và hỗ trợ của các tổ chức quốc tế. Tất nhiên, điều đó không phải là hoàn toàn tuyệt đối bởi vẫn còn những cuộc chiến tranh, những vụ xung đột vũ trang, tình trạng cấm vận kinh tế tại một số quốc gia và lãnh thổ trên thế giới.

Nhưng điều quan trọng là các quốc gia đều nhận thấy rằng sự đối đầu, sự cô lập các nước khác là không có lợi đối với tất cả các bên liên quan. Ví dụ như trường hợp của Mỹ trong cuộc chiến với Iraq. Mỹ là nước có ưu thế hơn, nhưng quốc gia này cũng phải gánh chịu nhiều tổn thất về người, về của và cả sự sút giảm về uy tín trên trường quốc tế. Tiến hành chính sách cấm vận đối với Cuba, Mỹ cũng phải đón nhận không ít sự phản đối từ chính các doanh nghiệp trong nước.

Rõ ràng, cả thế giới đều ủng hộ sự hòa bình về chính trị và sự hợp tác, liên kết về kinh tế giữa các quốc gia. Thứ ba, nhu cầu của con người ngày càng tăng dần theo sự phát triển của nền kinh tế. Mỗi cá nhân đều có nhu cầu học hỏi, du lịch, chữa bệnh, khám phá tìm hiểu những vùng đất mình chưa biết đến. Do đó, sự gắn bó, hợp tác giữa Chính phủ các quốc gia sẽ là một điều kiện tiền đề thuận lợi để thỏa mãn những nhu cầu rất thiết yếu này.

Thứ tư, sự ra đời của các tổ chức, hiệp hội mang tính khu vực và quốc tế ngày càng nhiều. Có thể nói, không một quốc gia nào hiện nay không phải là thành viên của một tổ ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- trang 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liên kết các NHTM Việt Nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- chức kinh tế - chính trị khu vực và quốc tế nào đó. Thông thường, mỗi quốc gia là thành viên của nhiều tổ chức khác nhau (ví dụ như, Việt Nam là thành viên của ASEAN, APEC, ASEM, WTO, UN…). Mỗi tổ chức sẽ có những tiêu chí và những mục đích hoạt động riêng, nhưng tựu trung lại là bảo vệ quyền lợi của các quốc gia thành viên trong những lĩnh vực liên quan.

Chính vì vậy, việc nỗ lực đáp ứng những yêu cầu để có thể trở thành thành viên của những tổ chức khu vực và quốc tế luôn được các quốc gia ưu tiên chú trọng. Và cuối cùng, vấn đề mấu chốt chính là lợi ích của việc hội nhập kinh tế quốc tế. Bởi lẽ, chính các quốc gia sẽ nhận thức được những lợi ích mà họ nhận được từ quá trình hội nhập lớn hơn nhiều so với những thách thức mà họ phải đối đầu. Vấn đề gì cũng có hai mặt, và việc hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu cũng thế.

Không nên vì những khó khăn trước mắt mà các quốc gia bỏ qua những cơ hội thuận lợi sau này. Phân tích, nhận định và quyết định hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu là quyết định khá kỹ càng và sáng suốt của các quốc gia. Thời cơ và thách thức của hội nhập đối với các nền kinh tế đang phát triển Việc tham gia vào quá trình toàn cầu hóa nền kinh tế, chủ động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế là một trong những xu hướng tất yếu. Tuy vậy, những quyết định hội nhập vẫn là rất khó khăn đối với các nước đang phát triển, bởi lẽ các nước này phải cân nhắc rất nhiều giữa những thuận lợi, thời cơ mà mình nhận được với những thử thách, những rủi ro tiềm ẩn bên trong xuất phát từ vị thế của những nước đi sau.

Nhìn chung, khi hội nhập vào nền kinh tế quốc tế, các quốc gia đang phát triển có thể tận dụng những cơ hội sau: 9 Tham gia vào quá trình xã hội hóa lực lượng sản xuất, hòa nhập với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thế giới. Trước đây, nền kinh tế các nước đang phát triển thu nhập từ nông nghiệp và công nghiệp là chủ yếu. Trong thời gian gần đây, cơ cấu này đã có sự thay đổi đáng kể với sự bứt phá mạnh mẽ của các ngành công nghiệp và dịch vụ.1: Cơ cấu kinh tế của Việt Nam qua các năm Đơn vị tính: % Năm 1990 1995 1997 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 GDP 100 100 100 100 100 100 100 100 100 100 Nông - lâm - thủy sản 38,74 27,18 25,77 24,53 23,24 23,03 22,54 21,8 21,02 20,40 Công nghiệp và xây dựng 22,67 28,76 32,08 36,73 38,13 38,49 39,47 40,2 40,97 41,52 Dịch vụ 38,59 44,06 42,15 38,73 38,63 38,48 37,99 38,0 38,01 38,08 Nguồn: Tổng hợp số liệu của Tổng cục Thống kê ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- trang 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Liên kết các NHTM Việt Nam để nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời kỳ hội nhập ------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------- Hơn thế, nội bộ từng ngành cũng có những thay đổi đáng kể. Trong công nghiệp, có sự chuyển dịch từ loại hình cơ cấu tiêu hao nhiều năng lượng, lao động, tài nguyên sang loại hình cơ cấu có hàm lượng khoa học, tri thức và công nghệ cao.

Ngành dịch vụ cũng ngày càng mở rộng về số lượng, quy mô, tốc độ, trở thành ngành có số người làm việc và giá trị sản xuất ngày càng lớn. Đến giai đoạn 2020, theo dự báo của WB, OECD, khoảng 80 - 85% lao động sẽ làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ, hoạt động trí tuệ có liên quan đến xử lý thông tin, tri thức. Đây là tiền đề rất quan trọng cho sự phát triển mới, hiện đại của con người. 9 Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra khả năng phát triển cao, rút ngắn và đem lại những nguồn lực rất quan trọng và cần thiết cho các nước đang phát triển và chuyển đổi.

Những nguồn lực này bao gồm nguồn vốn tư bản hữu hình và nguồn tri thức kinh nghiệm, cả về chiến lược dài hạn và tổ chức tiến hành trên tầm vĩ mô quốc gia cũng như tầm vi mô các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ