phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận án đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề chung về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh của các Nâng hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngân hàng Shinhan Việt Nam Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Shinhan Việt Nam trong thời gian tới. Luan van 6 CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẠNH TRANH, NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Từ trƣớc tới nay đã có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh. Ví dụ, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cạnh tranh là tranh đua giữa những cá nhân, tập thể có chức năng nhƣ nhau, nhằm giành phần hơn, phần thắng về phía mình 2.
Cạnh tranh cũng có thể đƣợc hiểu là sự đấu tranh để giành lợi thế thƣơng mại3. Trong Thế kỷ XX, có nhiều lý thuyết cạnh tranh ra đời nhƣ lý thuyết của Micheal Porter, J. Trong đó, phải kể đến lý thuyết “lợi thế cạnh tranh” của Micheal Porter, ông giải thích hiện tƣợng khi doanh nghiệp tham gia cạnh tranh thƣơng mại quốc tế cần phải có “lợi thế cạnh tranh” và “ lợi thế so sánh”. Ông phân tích lợi thế cạnh tranh tức là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp, của quốc gia, còn lợi thế so sánh là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, sức lao động, môi trƣờng tạo cho doanh nghiệp, quốc gia thuận lợi trong sản xuất cũng nhƣng trong thƣơng mại.
Ông cho rằng lợi thế cạnh tranh và lợi thế so sánh có quan hệ chặt chẽ với nhau, hỗ trợ nhau, lợi thế cạnh tranh phát triển dựa trên lợi thế so sánh, lợi thế so sánh phát huy nhờ lợi thế cạnh tranh. Qua những quan điểm của các lý thuyết cạnh tranh trên cho thấy, cạnh tranh không phải là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà cạnh tranh là động lực cho sự phát triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học, cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết qúy trọng hơn những cơ hội và lợi thế mà mình có đƣợc, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nƣớc. Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trƣớc mắt và trong tƣơng lai, để từ đó có những hƣớng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào quá trình cạnh tranh.
2 Từ điển tiếng Việt (Nguyễn Như Ý chủ biên), NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1998, tr. 3 Black’s Law Dictionary, Eighth Edition (chủ biên Bryan A. Garner), NXB Thomson West 2004, p.302 Luan van 7 Vậy nhìn chung, cạnh tranh đƣợc coi là hành vi của hai hoặc nhiều chủ thể trong kinh doanh (trong nền kinh tế thị trƣờng) với mục đích giành cho mình những ƣu thế cao nhất so với chủ thể khác4. Cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng nhƣ nhau thông qua các hành động, nổ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các mục tiêu của mình.
Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, danh tiếng…. Tuy nhiên, không phải tất cả các hành vi cạnh tranh là lành mạnh, hoàn hảo và nó giúp cho các chủ thể tham gia đạt đƣợc tất cả những gì mình mong muốn. Trong thực tế, để có lợi thế trong kinh doanh các chủ thể tham gia đã sử dụng những hành vi cạnh tranh không lành mạnh để làm tổn hại đến đối thủ tham gia cạnh tranh với mình. Cạnh tranh không mang ý nghĩa triệt tiêu lẫn nhau, nhƣng kết quả của cạnh tranh mang lại là hoàn toàn trái ngƣợc.
Khái niệm năng lực cạnh tranh Cho đến nay quan niệm về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp vẫn chƣa đƣợc hiểu thống nhất. Xin nêu một số cách định nghĩa về năng lực cạnh tranh theo một số cách nhìn nhận: - Theo từ điển Bách khoa toàn thƣ của Việt Nam: “Năng lực cạnh tranh đƣợc hiểu là khả năng của một mặt hàng, một đơn vị kinh doanh hoặc một nƣớc giành thắng lợi (kể cả giành lại một phần hay toàn bộ thị phần) trong cuộc cạnh tranh trên thị trƣờng tiêu thụ5. - Trong tác phẩm The Competitive Advantage of Nation (Lợi thế cạnh tranh của quốc gia), Michael Porter cũng thừa nhận, không thể đƣa ra một định nghĩa tuyệt đối về năng lực cạnh tranh. Theo ông, “Để có thể cạnh trạnh thành công, các doanh nghiệp phải có đƣợc lợi thế cạnh tranh dƣới hình thức hoặc là có đƣợc chi phí sản xuất thấp hơn hoặc là có khả năng khác biệt hóa sản phầm để đạt đƣợc mức giá cao trung bình.
Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày 4 Giáo trình Pháp Luật Cạnh Tranh, Tăng Văn Nghĩa, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.vn Luan van 8 càng đạt đƣợc những lợi thé cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hóa hay dịch vụ có chất lƣợng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu quả cao hơn”6. Để có thể đƣa ra quan niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phù hợp, cần lƣu ý thêm một số vấn đề sau đây: Một là, quan niệm năng lực cạnh tranh cần phù hợp với điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển trong từng thời kỳ. Hai là, năng lực cạnh tranh cần thể hiện khả năng tranh đua, tranh giành về các doanh nghiệp không chỉ về năng lực thu hút và sử dụng các yếu tố sản xuất, khả năng tiêu thụ hàng hóa mà cả khả năng mở rộng không gian sinh tồn của sản phẩm, khả năng sáng tạo sản phẩm mới. Ba là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cần thể hiện đƣợc phƣơng thức cạnh tranh phù hợp, bao gồm cả những phƣơng thức truyền thống và cả những phƣơng thức hiện đại không chỉ dựa trên lợi thế so sánh mà dựa vào lợi thế cạnh tranh, dựa vào quy chế.
Từ những yêu cầu trên, có thể đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhƣ sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là việc khai thác, sử dụng năng lực, lợi thế bên trong, bên ngoài, nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn ngƣời tiêu dung để tồn tại và phát triển, thu đƣợc lợi nhuận ngày càng cao và nâng cao vị trí so với đối thủ cạnh tranh trên thị trƣờng. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Trong phần trên, luận văn đã nêu rõ, thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” đƣợc sử dụng rất phổ biến nhƣng vẫn chƣa có sự thống nhất, thể hiện ở một số điểm: Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tiêu thụ sản phầm, dịch vụ, duy trì và mở rộng thị phần so với các đối thủ và khả năng thu lợi của doanh nghiệp. Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trƣớc sự tấn công của doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, từ điển thuật ngữ chính sách thƣơng mại định nghĩa năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp “khong bị 6 Micheal Porter, The Competitive Advantage of Nation, NXB The Free Press, 1990,tr.10 Luan van 9 doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế”.
Quan niệm này mag tính chất định tính, khó có thể định lƣợng7. Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với nang suất lao động. Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD (Organization for Economic Cooperation and Development) đƣa ra định nghĩa nhƣ sau: “Năng lực cạnh tranh là sức sản xuất ra thu nhạp tƣơng đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp, các ngành, các địa phƣơng, các quốc gia và khu vực phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”8. Nhà kinh tế học ngƣời Mỹ Michael E.Porter cho rằng đối với doanh nghiệp sức cạnh tranh có nghĩa là năng lực cạnh tranh trên thị trƣờng thế giới nhờ áp dụng chiến lƣợc toàn cầu mà có đƣợc.
Theo đó thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp chính là khả năng chiếm lĩnh và mở rộng thị trƣờng ở quy mô thế giới. Kế thừa có chọn lọc các điểm hợp lý trong các quan niệm nêu trên, có thể định nghĩa năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp nhƣ sau: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao các ưu thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác trong sản xuất, tiêu thụ sản phầm và dịch vụ của doanh nghiệp và thích ứng với moi trường nhằm gia tăng lợi nhuận, mở rộng thị phàn, phát triển bền vững”. Bản thân ngân hàng thƣơng mại cũng là một doanh nghiệp, tuy nhiên là doanh nghiệp đặc biệt (thể hiện ở lĩnh vực kinh doanh, hình thái sản phẩm, điều kiện hoạt động, cơ quan quản lý…). Do vậy năng lực cạnh tranh của NHTM có thể định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở bắt kịp thời các cơ hội để duy trì và phát triển những lợi thế vốn có nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh hoặc sức ép của các lực lượng cạnh tranh”.
Hay một cách diễn đạt đơn giản hơn, năng lực cạnh tranh của NHTM là sức mạnh nội tại của bản thân ngân hàng đó để có thể đƣa ra các sản phẩm, dịch vụ đáp 7 Nguyễn Khắc Hưng, 2001, tr. 8 Nguyễn Thị Mùi, Quản trị Ngân hàng thương mại, NXB Tài chính, Hà Nội, 2006, tr.24 Luan van 10 ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng và duy trì, thu hút khách hàng, mở rộng thị phần nhằm gia tăng lợi nhuận. Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của NHTM 1. Môi trường kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế trong nƣớc và quốc tế có ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thƣơng mại.
Sản xuất, kinh doanh, thƣơng mại và dịch vụ ngày càng tăng sẽ tác động đến khả năng thu hút tiền gửi, khả năng cho vay đầu tƣ và phát triển các dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thƣơng mại. Ngân hàng là một ngành chứa nhiều rủi ro. Mỗi một biến động bất lợi của môi trƣờng kinh tế vĩ mô đều có thể ảnh hƣởng đến hoạt động bình thƣờng của một ngân hàng.