CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Cạnh tranh Cạnh tranh được xem là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường, liên quan mật thiết đến sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Các nhà kinh tế học xác định cạnh tranh là sự ganh đua, tranh đấu giữa các chủ thể sản xuất hoặc/và tiêu dùng trên thị trường nhằm tranh giành những lợi ích kinh tế sao cho có lợi nhất.
Theo nhà kinh tế học Michael Porter (Mỹ) thì “Cạnh tranh (kinh tế) là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Như vậy, cạnh tranh chính là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế với nhau thông qua các hành động, sự phấn đấu và khả năng áp dụng những biện pháp để giành được lợi thế trên thương trường, sao cho có thể có được ưu thế về danh tiếng, thị phần, lợi nhuận. so với đối thủ.
Theo Giáo sư, Tiến sỹ Tôn Thất Nguyễn Thiêm – Giám đốc chương trình đào tạo MBA thuộc Viện quản trị kinh doanh Brussels UBI (Bỉ) tại Việt Nam thì “Cạnh tranh trên thương trường phải là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không phải để diệt trừ đối thủ của mình mà là để mang lại cho khách hàng những giá trị gia tăng cao hơn hoặc/và mới lạ hơn để khách hàng lựa chọn mình chứ không phải đối thủ của mình”. Ngày nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh và xem cạnh tranh không chỉ tác động thúc đẩy sự phát triển mà còn là yếu tố quan trọng lành mạnh hóa các quan hệ kinh tế - xã hội, tạo động lực cho nền kinh tế thị trường. Vì vậy, khái niệm tổng quát về cạnh tranh có thể được hiểu như sau: “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh sinh tồn diễn ra gay gắt, quyết liệt giữa các chủ thể tham gia thị trường, theo đó các chủ thể kinh tế huy động tổng lực (nội lực và ngoại lực) của mình trên cơ sở sử dụng các công cụ cạnh tranh nhằm giành được ưu thế trên thương trường để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận”. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại 1. Lợi thế cạnh tranh Lợi thế cạnh tranh là sở hữu của những giá trị đặc thù, có thể sử dụng được để “nắm bắt cơ hội”, để kinh doanh có lãi. Nói đến lợi thế cạnh tranh là nói đến lợi thế mà một doanh nghiệp đang có và có thể có, so với các đối thủ cạnh tranh của họ. Theo Giáo sư Michael Porter, lợi thế cạnh tranh là những gì làm cho doanh nghiệp nổi bật hay khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh.
Đó là những thế mạnh mà tổ chức có hoặc khai thác tốt hơn những đối thủ cạnh tranh: - Chi phí: Theo đuổi mục tiêu giảm chi phí đến mức thấp nhất có thể được. Doanh nghiệp nào có chi phí thấp thì doanh nghiệp đó có nhiều lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh, tạo điều kiện để tỷ lệ lợi nhuận cao hơn mức bình quân trong ngành. - Sự khác biệt hóa: Là lợi thế cạnh tranh có được từ những khác biệt xoay quanh sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà doanh nghiệp bán ra thị trường. Những khác biệt này có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức như: sự điển hình về thiết kế hay danh tiếng sản phẩm, công nghệ sản xuất, đặc tính sản phẩm, dịch vụ khách hàng, mạng lưới bán hàng, phong cách chuyên nghiệp, thương hiệu.
và bồi đắp sự hài lòng của khách hàng. Từ đó mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận… Giáo sư Michael Porter cho rằng: “Để cạnh tranh thành công các doanh nghiệp phải có lợi thế cạnh tranh về chi phí sản xuất thấp hơn hay có sư khác biệt hoá sản phẩm để đạt được mức giá cao hơn mức bình quân. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp phải có được những lợi thế cạnh tranh ngày càng tinh vi hơn, thông qua những hàng hoá và dịch vụ có chất lượng cao hơn hay sản xuất với năng suất hiệu quả hơn”. Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải tiến vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các nhân tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp… mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới. Theo báo cáo về khả năng cạnh tranh toàn cầu (1997) của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) do các giáo sư đại học Harvard như Michael Porter, Jeffrey Shach và một số chuyên gia của WEF như Cornelius, Mache Levison tham gia xây dựng thì năng lực cạnh tranh được hiểu là khả năng, năng lực mà doanh nghiệp có thể duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, bảo đảm thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra.
Đối với ngân hàng thương mại, năng lực cạnh tranh mang tính đặc thù bởi NHTM được xem là một doanh nghiệp đặc biệt do sản phẩm dịch vụ kinh doanh của nó mang tính đặc biệt, đó là tiền tệ. Tính chất doanh nghiệp đặc biệt của NHTM có thể nhận thấy qua phần giải thích từ ngữ về ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng tại điều 4 Luật các TCTD (phụ lục 1). Như vậy, khái niệm về ngân hàng thương mại có thể hiểu và nhìn nhận dưới góc độ sau: đó là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ, thực hiện giao dịch trực tiếp với các cá nhân, tổ chức với nội dung chủ yếu là nhận tiền gửi để cho vay, thực hiện chiết khấu, bảo lãnh… và cung ứng dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng trên. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 Tuy nhiên, dù là doanh nghiệp đặc biệt nhưng ngân hàng thương mại cũng tồn tại với mục đích cuối cùng là lợi nhuận.
Do vậy, khái niệm về năng lực canh tranh của ngân hàng thương mại có thể hiểu như sau: “Năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khả năng do chính ngân hàng thương mại tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế vốn có, nhằm củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”. Cơ sở đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại - Mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh của Michael Porter 1. Phân tích năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại theo mô hình Michael Porter: Cơ sở để phân tích năng lực cạnh tranh của NHTM dựa trên mô hình các nhân tố môi trường kinh doanh (mô hình viên kim cương) do Michael Porter đề xuất. Theo đó, các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của một ngành được chia thành 4 nhóm theo sơ đồ: Điều kiện về nhu cầu Điều kiện về yếu tố sản xuất Các ngành hỗ trợ (các yếu tố của bản và có liên quan thân doanh nghiệp) Chiến lược công ty, cạnh tranh, cấu trúc ngành Hình 1.1: Mô hình viên kim cương của Michael Porter Các nhân tố này tạo ra một môi trường mà trong đó các doanh nghiệp được thành lập và cạnh tranh lẫn nhau.
Mỗi nhân tố và tổng thể các nhân tố ảnh hưởng tới TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 khả năng cạnh tranh, kỹ năng cần thiết để có các lợi thế cạnh tranh trong ngành, thông tin hình thành nên các cơ hội mà doanh nghiệp cần nắm bắt, phương hướng sử dụng nguồn lực, mục tiêu của chủ doanh nghiệp, nhà quản lý và các cá nhân trong doanh nghiệp và quan trọng nhất là tạo áp lực buộc các doanh nghiệp phải đầu tư và đổi mới. Áp dụng mô hình viên kim cương của Michael Porter nêu trên cho trường hợp ngành ngân hàng, 4 nhóm nhân tố trong mô hình được xác định như sau: (a) Điều kiện về yếu tố sản xuất: bao gồm các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của bản thân NHTM như năng lực tài chính, chất lượng nguồn nhân lực của ngân hàng, năng lực quản trị điều hành của ban lãnh đạo ngân hàng, khả năng ứng dụng công nghệ, sự đa dạng và chất lượng sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, mạng lưới rộng khắp, uy tín thương hiệu. Các nhân tố này được chọn lọc phù hợp với đặc điểm của NHTM. Mang đặc trưng của NHTM là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh tiền tệ với những đặc điểm chính như: - Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng có liên quan trực tiếp đến tất cả các ngành, các mặt của đời sống kinh tế - xã hội.
Do đó, NHTM cần có hệ thống sản phẩm đa dạng, mạng lưới hoạt động rộng và liên thông với nhau để phục vụ mọi đối tượng khách hàng và ở bất kỳ vị trí địa lý nào; NHTM phải xây dựng được uy tín, tạo được sự tin tưởng đối với khách hàng vì bất kỳ một sự khó khăn nào của NHTM cũng có thể dẫn đến sự suy sụp của nhiều chủ thể có liên quan. - Lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng là dịch vụ, đặc biệt là dịch vụ có liên quan đến tiền tệ. Đây là một lĩnh vực rất nhạy cảm.