phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của Luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: - CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN - CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC HIỆP HỘI NHỰA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - CHƢƠNG 3. ĐỀ XUẤT ĐỔI MỚI CƠ CHẾ LIÊN KẾT THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP THUỘC HIỆP HỘI NHỰA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm khoa học và công nghệ 1. Khái niệm khoa học Khoa học có thể đƣợc định nghĩa theo nhiều cách tiếp cận tùy thuộc mục đích sử dụng. Với tƣ cách là một đối tƣợng của quản lý KH&CN, khái niệm khoa học có thể định nghĩa theo một số cách tiếp cận sau: - Khoa học là một hệ thống tri thức Khoa học đƣợc hiểu là “hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật tự nhiên của xã hội, tƣ duy” 10.
Theo Vũ Cao Đàm, hệ thống trí thức đƣợc nói ở đây là hệ thống tri thức khoa học. Khoa học trong trƣờng hợp này đƣợc hiểu nhƣ một hệ thống tĩnh tại các tri thức, xem khoa học nhƣ một sản phẩm trí tuệ đƣợc tích lũy từ trong hoạt động tìm tòi, sáng tạo của ngƣời nghiên cứu. Khi nói tri thức khoa học, các nhà nghiên cứu muốn phân biệt với tri thức kinh nghiệm. Tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm có đặc điểm chung là đều dựa trên các sự kiện tồn tại khách quan, đều hƣớng tới nhận thức chân lý khách quan.
Tuy nhiên, giữa tri thức khoa học và tri thức kinh nghiệm có những đặc điểm khác biệt dẫn tới những đặc trƣng cơ bản của hoạt động khoa học. - Khoa học là một hình thái ý thức xã hội Theo quan điểm của triết học K. Marx, khoa học đƣợc hiểu là một hình thái ý thức xã hội. Với tƣ cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tƣơng đối với các hình thái ý thức xã hội khác.
Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tƣợng và hình thức phản 10 Pierre Auger (1960), Tendances actuelles de la recherche scientifique, UNESCO, Paris, tr. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt. Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau. - Khoa học là một hoạt động xã hội Khoa học ngày nay đã trở nên một hoạt động nghề nghiệp của một cộng đồng xã hội.
Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, với một đặc điểm khó tìm thấy trong những lĩnh vực hoạt động xã hội khác. Đó là việc tìm kiếm những điều chƣa biết và phải chịu nhiều rủi ro trong quá trình tìm kiếm. Với tƣ cách là một hoạt động, hoạt động khoa học định hƣớng theo những mục đích sau: Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới khách quan Sáng tạo các sự vật mới, phát triển các phƣơng tiện cải tạo thế giới khách quan Định nghĩa của tác giả Luận văn: Từ những phân tích vừa nêu về khái niệm khoa học, Luận văn định nghĩa: Khoa học là một hệ thống những tri thức được tích lũy và bồi đắp qua suốt quá trình phát triển của nhân loại, phục vụ cho nhu cầu tìm hiểu và phát triển thế giới, đồng thời khoa học là một hình thái ý thức xã hội và là một hoạt động xã hội, để nhấn mạnh hoạt động quản lý khoa học và hoạt động nghiên cứu khoa học. Khái niệm công nghệ Có một số định nghĩa về công nghệ, theo Trần Ngọc Ca sƣu tầm 11 nhƣ sau: Theo quan điểm cổ điển nhất, công nghệ là một trật tự nghiêm ngặt các thao tác của quá trình chế biến và/hoặc thông tin.
11 Nguyễn Võ Hƣng - chủ biên (2003), Công nghệ và Phát triển thị trường công nghệ ở Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật. 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. (1977), xem “Công nghệ là tập hợp các kiến thức về một quy trình hoặc/và các kỹ thuật chế biến cần thiết để sản xuất ra các vật liệu, cấu kiện và sản phẩm công nghiệp hoàn chỉnh”.12 Nawar Sharif đƣa ra một định nghĩa khái quát về công nghệ:“Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất hoặc/và thông tin, về phương tiện và phương pháp chế biến vật chất và thông tin”. Công nghệ là một tập hợp phần cứng và phần mềm, bao gồm 4 yếu tố: phần kỹ thuật (vật thể), phần thông tin, phần con ngƣời và phần thiết chế tổ chức.
Đây cũng là 4 yếu tố công nghệ theo quan điểm của Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á – Thái Bình Dƣơng (APCTT). Graham đƣa ra định nghĩa: “Công nghệ là kiến thức không sờ mó được và không phân chia được, có lợi về mặt kinh tế khi sử dụng để sản xuất ra các sản phẩm và dịch vụ”. Một số tổ chức đã đƣa ra các định nghĩa về công nghệ khác nhau: Tổ chức PRODEC, năm 1982, cho rằng: “Công nghệ là một loại kỹ năng, kiến thức, thiết bị và phương pháp được sử dụng trong sản xuất công nghiệp, chế biến và dịch vụ”. Trƣớc đó, năm 1972, tổ chức UNCTAD cho rằng: “Công nghệ là một đầu vào cần thiết cho sản xuất, và như vậy nó được mua bán trên thị trường như một hàng hóa”.
Ngân hàng thế giới, năm 1985 đƣa ra định nghĩa: “Công nghệ là phương pháp chuyển hóa các nguồn lực thành sản phẩm, gồm ba yếu tố: - Thông tin về phương pháp - Phương tiện, công cụ sử dụng phương pháp để thực hiện việc chuyển hóa. - Sự hiểu biết phương pháp hoạt động như thế nào và tại sao.” Tổ chức OECD, gồm các nƣớc phát triển của châu Âu, Nhật Bản, Mỹ và Canada lại có một định nghĩa chung: “Công nghệ được hiểu là một tập hợp 12 Baranson, J. (1977): Western Technology in the Political Economy of Eastern Europe. World Economy, 1: 81–92 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các kỹ thuật, mà bản thân chúng được định nghĩa là một tập hợp các hành động và quy tắc lựa chọn chỉ dẫn việc ứng dụng có trình tự các kỹ thuật đó mà theo hiểu biết của con người thì sẽ đạt được một kết quả định trước (và đôi khi được kỳ vọng) trong một hoàn cảnh nhất định”.
Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc (UNIDO) cho rằng “Công nghệ là việc áp dụng khoa học vào công nghiệp bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý nó một cách có hệ thống và phương pháp”. Ủy ban kinh tế và xã hội châu Á – Thái Bình Dƣơng (ESCAP) xem “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật chế biến vật chất và thông tin”. Trần Ngọc Ca đã đƣa ra khái niệm về công nghệ nhƣ sau: “Công nghệ có thể được hiểu như mọi loại hình kiến thức, thông tin, bí quyết, phương pháp (gọi là phần mềm) được lưu giữ dưới các dạng khác nhau (con người, ghi chép…) và mọi loại hình thiết bị, công cụ, tư liệu sản xuất (gọi là phần cứng) và một số tiềm năng khác (tổ chức, pháp chế, dịch vụ…) được áp dụng vào mội trường thực tế để tạo ra các loại sản phẩm và dịch vụ”. Luật KH&CN của Việt Nam, năm 2013 đã đƣa ra định nghĩa “Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”.
Luật chuyển giao công nghệ năm 2006 xác định:“Công nghệ là giải pháp, quy trình, bí quyết kỹ thuật có kèm hoặc không kèm công cụ, phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành sản phẩm”. Vũ Cao Đàm13 đã đƣa ra một số định nghĩa về “Công nghệ”, dựa trên các cách tiếp cận khác nhau: Định nghĩa 1: Công nghệ là một chuỗi các thao tác kỹ thuật, đƣợc thực hiện theo một trình tự nghiêm ngặt có liên hệ logic, của quá trình chế biến vật chất hoặc thông tin. 13 Vũ Cao Đàm (2011), Một số vấn đề Quản lý KH&CN ở nƣớc ta, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2011, tr.38, 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đây có thể xem là một định nghĩa cổ điển nhất về công nghệ, kể từ khi “Công nghệ” đƣợc hiểu nhƣ một khái niệm con thuộc phạm trù “Kỹ thuật”. Định nghĩa 2: Công nghệ là một phƣơng tiện (device) bao gồm phần cứng của công nghệ và phần mềm của công nghệ.
Định nghĩa này mô phỏng theo cách phân biệt “phần cứng” và “phần mềm” của công nghệ thông tin, Khái niệm công nghệ theo ý nghĩa này đƣợc sử dụng phổ biến trong lĩnh vực thƣơng mại: phần cứng của công nghệ (hardware) đƣợc bán với giá cả ấn định trên thị trƣờng còn phần mềm của công nghệ (software) không có giá cả ấn định. Nó phụ thuộc rất lớn vào copyright và quan hệ cung cầu. Định nghĩa 3: Công nghệ là một hệ thống tri thức về quá trình chế biến vật chất và/hoặc thông tin. Định nghĩa “Công nghệ” theo cách này có vẻ hơi giống định nghĩa: ”Khoa học”.
Tuy nhiên, chúng ta có thể phân biệt: tri thức khoa học là tri thức “hiểu”; còn tri thức công nghệ thuộc loại tri thức “làm”. Hai loại tri thức này đƣợc phát triển theo hai hƣớng ngƣợc chiều nhau: - Tri thức khoa học là nguồn cung cấp để hình thành các tri thức công nghệ, đặc biệt là trong nền khoa học hiện đại, khoa học đã vƣợt lên phía trƣớc, mang tính dự báo, vạch đƣờng cho công nghệ ra đời và phát triển. - Tri thức khoa học đƣợc tổng kết và khái quát hóa từ tri thức công nghệ. Đây là chiều hƣớng quan hệ giữa KH&CN từ nửa đầu thế kỷ XX trở về trƣớc, trong đó khoa học nhận dạng và giải thích những ứng dụng đã tồn tại trong công nghệ và phát triển các nguyên lý đó để công nghệ tiến những bƣớc xa hơn.
- Tri thức khoa học phát triển đi trƣớc tri thức công nghệ, mở đƣờng cho những ứng dụng mới trong công nghệ, dự báo xu thế phát triển của công nghệ. Định nghĩa 4: 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.