CHƯƠNG 1 CƠSỞLÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN 17 NĂNG LỰ C CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP DU LỊCH 1. DOANH NGHIỆP DU LỊCH VÀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP DU LỊCH NHÀ NƢỚC 1. Doanh nghiệp du lịch 1. Kinh doanh du lịch a.
Các lĩnh vực kinh doanh du lịch Du lịch đã xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử tồn tại và phát triển của loài người. Từ những hiện tượng riêng lẻ và cá biệt, ngày nay du lịch đã trở thành hoạt động xã hội và là nhu cầu phổ biến của con người. Xuất phát từ việc hình thành và phát triển nhu cầu du lịch của con người, hoạt động KDDL cũng ngày càng phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của con người trong các chuyến đi. Theo Luật doanh nghiệp năm 2005 áp dụng vào doanh nghiệp du lịch có thể hiểu: KDDL là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình hoạt động du lịch, từ sản xuất đến tiêu thụ hoặc cung ứng DVDL trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Trong đó, “Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức cá nhân KDDL, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch.10-11] Cùng với sự hình thành và phát triển nhu cầu du lịch, hoạt động KDDL cũng ngày càng đa dạng và phức tạp. Trên thị trường hiện nay đã xuất hiện nhiều lĩnh vực KDDL. Có thể kể ra các lĩnh vực kinh doanh như sau [25, tr.36]: - Kinh doanh lữ hành: Du lịch là hoạt động di rời của con người từ nơi cư trú thường xuyên đến nơi đến du lịch. Để thuận lợi cho các chuyến đi, các cơ sở KDDL đã thực hiện HĐKD lữ hành nhằm cung cấp cho khách du lịch các chương trình du lịch trọn gói có tính tiện lợi và hiệu quả cao.
Kinh doanh lữ hành được hiểu “là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo và bán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hoặc văn 18 phòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch” [12, tr.15- 16] - Kinh doanh lưu trú du lịch: Nếu kinh doanh vận chuyển khách du lịch đáp ứng nhu cầu đi lại của du khách thì kinh doanh lưu trú du lịch đáp ứng nhu cầu cơ bản - nhu cầu nghỉ ngơi của du khách. Có thể hiểu, kinh doanh lưu trú du lịch “là HĐKD ngoài lĩnh vực sản xuất vật chất, cung cấp các dịch vụ cho thuê buồng ngủ và các dịch vụ bổ sung khác cho khách trong thời gian lưu lại tạm thời tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi” [18, tr.16] - Kinh doanh vận chuyển khách du lịch: “Kinh doanh vận chuyển khách du lịch là việc cung cấp dịch vụ vận chuyển cho khách du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tại các khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch” [25, tr.47] Để đáp ứng nhu cầu đi lại của khách trong các chuyến đi, HĐKD vận chuyển khách du lịch đã hành thành và phát triển. Các cơ sở kinh doanh vận chuyển khách du lịch không chỉ cung cấp dịch vụ vận chuyển tiện nghi, chất lượng phục vụ khách du lịch tiếp cận với các điểm du lịch mà còn giúp du khách đi lại thuận tiện tại các khu du lịch, điểm du lịch. - Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch: Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động du lịch, kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch cũng đang là xu thế mới của nhiều địa phương, quốc gia nhằm khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch (TNDL) và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của du khách.
“Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch bao gồm đầu tư bảo tồn, nâng cấp TNDL đã có; đưa các TNDL tiềm năng vào khai thác; phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới; kinh doanh xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật (CSVCKT) du lịch” [25, tr.54] - Kinh doanh DVDL khác: Theo tinh thần của Luật Du lịch, kinh doanh DVDL khác bao gồm: kinh doanh ăn uống, mua sắm, thể thao, giải trí, thông tin… Việc kinh doanh các DVDL này sẽ tăng cường sự hấp dẫn và thỏa mãn cho du khách trong mỗi chuyến đi. Đặc điểm kinh doanh du lịch 19 Du lịch là một trong những lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, cho nên KDDL mang đầy đủ các đặc điểm của kinh doanh dịch vụ. Ngoài ra, KDDL còn có một số đặc trưng riêng biệt. Có thể kể ra một số đặc điểm cơ bản của KDDL như sau: - Sản phẩm du lịch có tính vô hình, tính không đồng nhất, tính đồng thời và không dự trữ được.
Khác với sản phẩm hàng hóa, sản phẩm du lịch hầu như không tồn tại dưới dạng vật chất, không có khả năng nhận biết được bằng các giác quan. Đặc điểm này gây ra những khó khăn không nhỏ cho các cơ sở KDDL trong việc quảng bá, xúc tiến, khẳng định chất lượng sản phẩm và khơi gợi nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy, các nhà KDDL cần có biện pháp vật chất hóa sản phẩm du lịch và quản lý tốt tâm lý khách hàng. Xuất phát từ đặc tính vô hình của sản phẩm du lịch, trong KDDL cũng xuất hiện sự không đồng nhất giữa các sản phẩm du lịch dù cùng một loại dịch vụ do chính nhân viên của một cơ sở KDDL cung cấp.
Nguyên nhân là do chất lượng sản phẩm du lịch cung ứng không chỉ được quyết định bởi trình độ phục vụ mà còn phụ thuộc vào tâm lý, trạng thái, tình cảm của nhân viên phục vụ; thậm chí còn phụ thuộc cả vào thái độ, cách ứng xử… của khách du lịch. Do đặc điểm này mà việc tiêu chuẩn hoá chất lượng sản phẩm du lịch rất khó khăn, đe dọa khả năng thu hút khách du lịch của các cơ sở KDDL. Vì vậy, các cơ sở KDDL phải chú trọng đến việc huấn luyện đội ngũ nhân viên có trình độ, kỹ năng và phong cách làm việc chuyên nghiệp. Bên cạnh đó, quá trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm du lịch còn diễn ra đồng thời cả về không gian và thời gian.
Quá trình sản xuất, sáng tạo sản phẩm du lịch không tách rời quá trình tiêu dùng và cảm nhận của khách du lịch. Sản phẩm du lịch chỉ được sản xuất khi có yêu cầu của khách. Chính vì vậy, có thể xem khách du lịch là “nguyên liệu đầu vào” của quá trình sản xuất và cung ứng sản phẩm du lịch. Do đặc điểm này mà sản phẩm du lịch không thể sản xuất hàng loạt, không thể sản xuất trước.
Để đảm bảo nhịp độ HĐKD, các cơ sở KDDL cần thiết phải có kế hoạch dự trữ nguyên liệu, dự trữ khách hàng một cách hợp lý; đồng thời chú trọng nâng cao khả năng phân phối sản phẩm du lịch và khả năng tiếp cận khách hàng. 20 Do quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời nên sản phẩm du lịch không dự trữ, bảo quản được. Sản phẩm du lịch hôm nay không bán được thì ngày mai vĩnh viễn mất đi, không thể bán bù vào ngày hôm sau. Vì vậy, trong KDDL, các cơ sở kinh doanh cần có biện pháp sử dụng công cụ giá hợp lý để tối đa hóa công suất phục vụ khách hàng.
- KDDL gắn liền với yếu tố TNDL. Do hoạt động KDDL được thực hiện phục vụ đối tượng khách du lịch, cho nên KDDL gắn liền với TNDL. Trong thực tế, không chỉ sản phẩm chương trình du lịch nhất thiết phải bao gồm các điểm đến với những hấp dẫn được hình thành từ chính các TNDL để thu hút du khách mà ngay cả các DVDL như lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí… cũng phải được thiết kế cung cấp tại các khu, các điểm du lịch nhằm cung cấp sản phẩm du lịch trọn gói, tổng hợp, có tính tiện lợi cao cho du khách. - KDDL sử dụng nhiều lao động sống.
Do sản phẩm du lịch là sản phẩm dịch vụ, cho nên khả năng cơ giới hóa và tự động hóa trong KDDL là rất khó khăn. Để tạo sản phẩm đáp ứng nhu cầu du khách, các cơ sở KDDL phải sử dụng tỷ lệ lao động sống lớn. Mặt khác, lao động trong các KDDL quyết định rất nhiều đến chất lượng phục vụ khách hàng. Vì vậy, các cơ sở KDDL phải làm tốt công tác quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp mình.
- KDDL mang tính thời vụ. Do hoạt động KDDL phụ thuộc vào nhu cầu khách du lịch và yếu tố TNDL, cho nên KDDL mang tính thời vụ rõ rệt. Tùy vào đặc tính của mỗi điểm đến du lịch và thời gian rỗi của khách du lịch mà có những khoảng thời gian, nhu cầu du lịch tăng lên rất cao, trong khi đó có những khoảng thời gian nhu cầu du lịch lại rất hạn chế. - KDDL phục vụ nhiều đối tượng khách hàng khác nhau.
KDDL phục vụ cho nhiều đối tượng khách du lịch khác nhau cả về quốc tịch, tập quán, trình độ, giới tính, khả năng thanh toán… Do sự đa dạng về khách hàng nên cũng đòi hỏi các cơ sở KDDL phải thiết kế sản phẩm du lịch phải dựa trên nhu cầu của từng tập thị trường khách hàng cụ thể. 21 - KDDL có tính sẵn sàng đón tiếp và phục vụ khách. Là một lĩnh vực kinh doanh dịch vụ, cho nên hoạt động KDDL phụ thuộc vào nhu cầu khách hàng, bất cứ khi nào khách hàng có nhu cầu, các cơ sở KDDL đều có thể đáp ứng và phục vụ. Chính vì vậy, hoạt động KDDL thường diễn ra 24/24h trong ngày.
Để đáp ứng yêu cầu này, các cơ sở KDDL phải bố trí lao động làm việc theo ca. Các loại hình doanh nghiệp du lịch Du lịch ngày càng khẳng định tầm quan trọng trong đời sống xã hội của con người. Xu hướng du lịch trở nên phổ biến và nhu cầu du lịch ngày càng nâng cao đã thu hút đông đảo các nhà kinh doanh đầu tư vào lĩnh vực du lịch. Theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 có thể hiểu, Doanh nghiệp du lịch là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động KDDL [26].
Như vậy, doanh nghiệp du lịch là một chủ thể hoạt động KDDL, chịu trách nhiệm sản xuất và cung cấp các sản phẩm du lịch trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch với mục đích sinh lời.