Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về NLCT của Doanh nghiệp viễn thông và mô hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và phân tích thực trạng NLCT dịch vụ viễn thông của VNPT Bình Thuận Chương 5: Kết luận và hàm ý nghiên cứu đề xuất cho VNPT Bình Thuận 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP VIỄN THÔNG VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Trong Chương 2 này, tác giả sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về các vấn đề liên quan đến đề tài như cạnh tranh, NLCT, NLCT ngành viễn thông, các cấp độ của cạnh tranh. Tiếp đó tác giả phân tích các tiêu chí đánh giá NLCT của ngành dịch vụ viễn thông và các mô hình lý thuyết phân tích NLCT ngành dịch vụ viễn thông. Những vấn đề lý luận được đề cập tới trong chương 2 tạo tiền đề, cơ sở để tác giả phân tích thực trạng tại Chương 4 cũng như đưa ra các hàm ý quản trị nhằm để nâng cao NLCT phù hợp tại Chương 5. Cơ sở lý luận và thực tiễn về NLCT của doanh nghiệp viễn thông 2.
Khái niệm cạnh tranh Cạnh tranh được xem là một trong những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường, liên quan đến sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về cạnh tranh: Theo Michael Porter (1980) thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần, bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu, dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là một điều kiện và là yếu tố kích thích kinh doanh, là động lực thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, tăng năng suất lao động tạo sự phát triển của xã hội nói chung.
Như vậy, cạnh tranh là quy luật khách quan của nền sản xuất hàng hoá, là cơ chế vận động của thị trường. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, hàng hoá bán ra càng nhiều, số lượng nhà cung ứng càng đông thì cạnh tranh càng gay gắt, kết quả cạnh tranh sẽ tự loại bỏ những doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Hiểu theo một nghĩa chung nhất “Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trong việc giành giật thị trường và khách hàng”. Khái niệm năng lực cạnh tranh Khái niệm NLCT được sử dụng không chỉ đối với sự ganh đua giữa các sản phẩm của các DN, giữa các DN với nhau mà còn được sử dụng trong việc so sánh NLCT giữa các quốc gia trong điều kiện cạnh tranh quốc tế.
Những năm gần đây, khái niệm NLCT ngày càng được nhiều người quan tâm, từ các nhà nghiên cứu, các chính trị gia đến các nhà quản lý chính quyền và giới doanh nhân. Tuy nhiên, cho đến nay 7 khái niệm này vẫn chưa được sử dụng một cách thống nhất. Từ thực tế tham khảo các nguồn tài liệu khác nhau, NLCT có thể được định nghĩa như sau: Theo Porter (1990), “NLCT là khả năng của một tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia có thể cạnh tranh trên thị trường về một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó, thể hiện ưu thế của tổ chức kinh tế, một địa phương hay một quốc gia trong việc đáp ứng một cách bền vững và lâu dài nhu cầu của khách hàng về sản phẩm hay dịch vụ đó, tổng hòa các yếu tố kỷ thuật, công nghệ, tổ chức và quản lý trong việc cung cấp các sản phẩm hay dịch vụ trên thị trường”. [18] Từ điển Thuật ngữ Kinh tế học của tác giả Hữu Khuê Mai (2001), “NLCT là khả năng giành được thị phần lớn trước các đối thủ cạnh tranh trên thị trường, kể cả khả năng giành lại một phần hay toàn bộ thị trường”.
[11] Tóm lại, cùng với sự phát triển phức tạp của các hiện tượng kinh tế xã hội, khái niệm NLCT được diễn giải theo nhiều nghĩa, và chưa rõ ràng. Từ các quan niệm trên, có thể rút ra một kết luận chung là: “NLCT là khả năng tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ ưu việt hơn và phù hợp hơn đối với yêu cầu của thị trường so với các đối thủ cạnh tranh, tạo ra lợi thế hơn so với các đối thủ cạnh tranh khác trên thị trường”. Khái niệm NLCT của doanh nghiệp NLCT của doanh nghiệp là sự thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thoả mãn tốt nhất các đòi hỏi của khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao, bằng việc khai thác, sử dụng thực lực và lợi thế bên trong, bên ngoài nhằm tạo ra những sản phẩm, dịch vụ hấp dẫn người tiêu dùng để tồn tại và phát triển, thu được lợi nhuận ngày càng cao và cải thiện vị trí so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Theo Michael Porter (1990): “NLCT là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm với năng suất, chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh và chiếm lĩnh được thị phần lớn hơn cũng như tạo ra thu nhập cao cho người lao động và khả năng phát triển bền vững cho tổ chức”.
Ông cũng cho rằng, để đo lường NLCT của DN thì năng suất lao động là thước đo duy nhất. Theo Nguyễn Hữu Thắng (2009):“ NLCT của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững”[27]. Phạm Thu Hương (2017):“ NLCT của doanh nghiệp vừa và nhỏ là việc khai thác, sử dụng các yếu tố năng lực của DN để duy trì và tạo lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được kết quả hoạt động kinh doanh cao hơn so với đối thủ và thích ứng với những thay đổi của môi trường kinh doanh”[34, tr. 8 Như vậy, cho đến nay NLCT vẫn chưa được hiểu theo một quan niệm nào thống nhất.
Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, trình độ phát triển kinh tế còn thấp đặt trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với sự cạnh tranh gay gắt, do vậy, NLCT của doanh nghiệp cần thể hiện được sự kết hợp giữa phương thức cạnh tranh truyền thống và phương thức cạnh tranh hiện đại. Từ những yêu cầu này, khái niệm NLCT của doanh nghiệp được hiểu là: “Khả năng khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp để duy trì và phát triển lợi thế cạnh tranh cao hơn so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng nhằm đạt hiệu quả sản xuất kinh doanh bền vững trong điều kiện môi trường kinh doanh thay đổi”. Trong quá trình nghiên cứu thì khái niệm về NLCT được đề cập và được xem xét dưới nhiều cấp độ khác nhau như: NLCT quốc gia, NLCT ngành, NLCT của doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia Trong báo cáo của Diễn đàn Kinh tế thế giới năm 1997 đã nêu khái niệm: “Năng lực cạnh tranh của một quốc gia là năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc dân nhằm đạt được và duy trì mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác”.
Năng lực cạnh tranh quốc gia (NLCTQG) phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia, bởi vì chính năng suất xác định mức sống bền vững thể hiện qua mức lương, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. Cho đến nay, vẫn còn có sự khác biệt trong cách hiểu và luận giải khái niệm NLCTQG. Tuy nhiên, nhiều quan điểm thống nhất cho rằng, yếu tố cốt lõi của NLCTQG là năng suất, cụ thể là năng suất sử dụng các nguồn lực, các yếu tố vốn và lao động. Năng suất là nhân tố quyết định mức sống trong dài hạn của quốc gia, là yếu tố quyết định mức thu nhập bình quân đầu người của mỗi nước.
Năng suất của nguồn nhân lực quyết định hiệu quả lao động phản ánh qua tiền lương, còn năng suất sử dụng vốn quyết định lợi tức mà mỗi đồng vốn có thể mang lại cho người có vốn. NLCTQG là tập hợp những nhân tố tạo nên khả năng và lợi thế cạnh tranh của đất nước, phản ánh năng lực thu hút đầu tư để đạt được sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững, từ đó bảo đảm ổn định kinh tế – xã hội và nâng cao mức sống của Nhân dân. Năng lực cạnh tranh cấp ngành Theo Erna Van Duren et al. (1991) Cạnh tranh ở cấp độ ngành là “Năng lực duy trì được lợi nhuận và thị phần trên thị trường trong và ngoài nước”.
Ash Ken & Brink 9 Lars (1992) cho rằng “Một ngành được coi là có tính cạnh tranh khi ngành này có khả năng tạo lên lợi nhuận và tiếp tục duy trì được thị phần trên thị trường trong nước và quốc tế”. Để đo lường NLCT cấp ngành, người ta thường sử dụng các tiêu chí như là tổng lợi nhuận của các công ty trong cùng một ngành, cán cân thương mại của ngành công nghiệp đó, cán cân đầu vào và đầu ra của nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài, và các biện pháp đo lường trực tiếp mức chi phí và chất lượng ở cấp độ ngành công nghiệp. Theo Liên Hiệp Quốc, NLCT của một ngành có thể được đánh giá thông qua khả năng sinh lời của các DN trong ngành, cán cân ngoại thương của ngành, cán cân đầu tư nước ngoài (đầu tư ra nước ngoài và đầu tư từ nước ngoài vào) và những thước đo trực tiếp về chi phí và chất lượng ở cấp ngành. Có 7 yếu tố tác động tới NLCT của ngành: năng suất, công nghệ, sản phẩm, yếu tố đầu vào và chi phí, mức độ tập trung, các điều kiện về cầu và độ liên kết.
Trong cạnh tranh ngành còn phân ra: cạnh tranh trong nội bộ ngành, cạnh tranh dọc, cạnh tranh ngang. Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp Theo Michael Porter (1996), cạnh tranh hiểu theo cấp độ DN là việc đấu tranh hoặc giành giật từ một số đối thủ về khách hàng, thị phần hay nguồn lực của các DN.