CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VE NGÂN HÀNG DAU TƯ VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CUA DỊCH VỤ NGAN HÀNG DAU TƯ 1. Ngân hàng Đầu tư và dịch vụ Ngân hàng Dau tư của Công ty Chứng khoán. Khái niệm và đặc điểm của Ngân hàng Dau tu 1. Khái niệm Ngân hàng Dau tư Ngân hàng Đầu tư theo định nghĩa của Wikipedia là một định chế đóng vai trò như một trung gian tài chính thực hiện hàng loạt các dịch vụ liên quan tới tải chính như bảo lãnh: làm trung gian giữa các tổ chức phát hành chứng khoán và nhà đầu tư, tư vấn giúp dàn xếp các thương vu mua lại và sáp nhập cùng các hoạt động tái cơ cau Doanh nghiệp khác và môi giới cho khách hàng là các tổ chức.
Cần nhấn mạnh rằng, đối tượng khách hàng chính của ngân hàng đầu tư là các tổ chức, công ty và Chính phủ không phải là khách hàng cá nhân. Tại Việt Nam, hiện chưa có 01 khái niệm chính thức nào về Ngân hàng Đầu tư cũng như luật pháp cụ thể về dich vụ Ngân hàng Dau tư. Ngân hang dau tư vẫn được hiểu theo nghĩa đơn giản là một “định chế tài chính” hay “tổ chức tài chính trung gian” theo quy định của luật Việt Nam. Khác với các tổ chức tài chính hàng đầu thế giới trong lĩnh vưc Ngân hàng Đầu tư như JPMorgan Chase, Morgan Stanley hay Goldman Sachs,.
Các Ngân hàng Đầu tư ở Việt Nam là một dịch vụ của công ty chứng khoán, chỉ có các công ty chứng khoán lớn mới cung cấp dịch vụ này ví dụ như: CTCP Chứng khoán SSI, CTCP Chứng khoán Bảo Việt, CTCP Chứng khoán FPT,. Một số công ty Chứng khoán cũng gọi dịch vụ Ngân hang Đầu tư là dịch vụ Tài chính Doanh nghiệp vì khách hàng chủ yếu của dịch vụ này là các Doanh nghiệp. Một cách đầy đủ nhất, theo Investopedia, Ngân hàng Đầu tư là một bộ phận cụ thê của ngân hàng liên quan tới việc tao von cho các công ty, Chính phủ và các tổ chức khác. Ngân hàng Đầu tư bảo lãnh phát hành chứng khoán mới cho Doanh nghiệp, chứng khoán ở đây bao gồm các chứng khoán nợ như trái phiếu thường, trái phiếu chuyên đổi,.
và chứng khoán vốn như cô phiếu, hỗ trợ việc mua bán chứng khoán cho Doanh nghiệp, giúp tạo điều kiện cho các Doanh nghiệp thực hiện mua bán và sáp nhập, tô chức lại và môi giới các giao dịch cho cả các tô chức và các nhà đâu tư cá nhân nêu có nhu câu. Ngân hàng Đầu tư cũng cung cấp dịch vụ hướng dẫn cho các tổ chức thực hiện phát hành cô phiêu liên quan đên vân đê phát hành và vỊ trí của cô phiêu trong ngành. Đặc điển của Ngân hàng Đầu tr Như đã trình bày ở trên, Ngân hàng Đầu tư là một bộ phận cụ thể của ngân hàng, tuy nhiên ở Việt Nam, Ngân hàng Đầu tư là một dịch vụ do các công ty chứng khoán cung cap. Đối tượng khách hàng chủ yếu ở đây là các Doanh nghiệp, Chính phủ, các tô chức, các quỹ,.
và có cả các khách hàng cá nhân. Nhưng ở Việt Nam, dịch vụ này vẫn còn chưa phổ biến khách hàng chủ yếu là Doanh nghiệp và Chính phủ, vì vậy Ngân hàng Đầu tư còn được biết tới với tên gọi Tài chính Doanh nghiệp. Ngân hàng Đầu tư là cầu nối giữa Doanh nghiệp với thị trường vốn giúp các Doanh nghiệp tìm kiếm được các cơ hội đầu tư trên thị trường vốn trung và dài hạn, đồng thời cũng là cơ hội dé nha đầu tư cá nhân hay tô chức tìm kiếm các cơ hội dau tư vào các Doanh nghiệp giàu tiềm năng phát triển. Các nghiệp vụ chính của dịch vụ Ngân hàng Đầu tư Ngân hàng Đầu tư có rất nhiều nghiệp vụ.
Dựa trên danh tiếng, kinh nghiệm hoạt động, chat lượng của kênh phân phối và nghiên cứu. mà mỗi Ngân hàng Dau tư sẽ có những thế mạnh riêng. Dưới đây là các nghiệp vụ chính mà một Ngân hàng Đầu tư cung cấp cho khách hàng. > Phát hành chứng khoán lần đầu (IPO): IPO là việc phát hành chứng khoán lần đầu ra công chúng, các chứng khoán này sẽ được giao dịch trên thị trường sơ cấp, nơi diễn ra các hoạt động mua bán của các chứng khoán được phát hành lần đầu.
Khi Doanh nghiệp muốn IPO Doanh nghiệp có thể tìm thuê một Ngân hàng Đầu tư để thực hiện điều này, theo JR Ritter (2003) [1] khi một Ngân hàng Đầu tư hỗ trợ Doanh nghiệp IPO thì Ngân hàng Đầu tư sẽ thực hiện các bước như sau: e Trước khi thực hiện IPO, công ty sẽ thuê một Ngân hàng Đầu tư dé thực hiện IPO. Việc lựa chọn Ngân hàng Đầu tư nào hoàn toàn là do công ty đó tự quyết định. Ngân hàng Đầu tư đó sẽ thực hiện quy trình bảo lãnh và hoạt động như một môi giới trung gian giữa nhà đầu tư muốn mua chứng khoán của công ty thực hiện IPO với công ty đó. e Ngân hàng Dau tư sẽ xây dựng các Mô hình Tài chính (Financial Modelling) khi IPO của công ty như trong thỏa thuận IPO.
e Ngân hàng Đầu tư sẽ gửi hồ sơ lên Uy ban chứng khoán thông báo về việc thực hiện bảo lãnh phát hành và đăng kí thực hiện IPO cho công ty. e Đăng thông báo về việc bảo lãnh thực hiện IPO cho công ty kèm theo quyết định phê duyệt của Ủy ban chứng khoán. Công ty IPO sẽ quyết giá chứng khoán và số lượng chứng khoán phát hành. e Sau khi phát hành, phía Ngân hang Đầu tư sẽ thực hiện các thỏa thuận về hậu phát hành như trong thỏa thuận IPO về việc nam giữ số lượng chứng khoán dư, tạo thị trường cho chứng khoán mới phát hành,.
e Bước cuối cùng là sự chuyền đổi sang giai đoạn cạnh tranh thị trường. Sau 25 ngày, phía Ngân hàng Đầu tư sẽ định giá lại giá trị và số vốn gọi được của công ty thực hiện IPO đề hoàn tất thương vụ. IPO chính là một trong những nghiệp vụ quan trọng nhất của Ngân hàng Đầu tư, giúp các công ty thực hiện niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán. về phía Ngân hàng Đầu tư sẽ thu được phí trung gian từ công ty thực hiện IPO.
> Bảo lãnh phát hành (Underwriting): Bảo lãnh phát hành là một trong những nghiệp vụ quan trọng thứ hai của Ngân hàng Đầu tư. Phía Ngân hàng Đầu tư sẽ thực hiện cam kết bảo lãnh và đảm bảo mọi thủ tục, hồ sơ cho Công ty thực hiện chào bán chứng khoán ra công chúng. Cam kết bảo lãnh có thể chia thành nhiều mức cam kết khác nhau. Theo Gershon Mandelker và Arthur Raviv (1977) [2], có 4 mức cam kết bảo lãnh phát hành: e Bảo lãnh với cam kết chắc chắn: Nếu Công ty không thé bán hết số chứng khoán phát hành, phía công ty Chứng khoán (Phòng Ngân hàng Đầu tư thuộc công ty chứng khoán) sẽ thực hiện mua toàn bộ số chứng khoán còn lại.
e Bảo lãnh với cé gang cao nhất: Phía Ngân hàng Dau tư không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán phát hành nhưng sẽ cố gắng bán khối lượng nhiều nhất có thé. Nếu không thé bán hết số chứng khoán phát hành, số chứng khoán dư thừa sẽ trả về cho Công ty thực hiện phát hành. e Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không bán gì: Nếu trong đợt phát hành, số chứng khoán không được bán hết thì toàn bộ chứng khoán của dot phát hành sẽ bi hủy. e Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu — tối đa: Nếu lượng chứng khoán bán được không đạt được 01 tỷ lệ yêu cầu do Công ty phát hành yêu cầu thì toàn bộ số chứng khoán phát hành sẽ bị hủy.
Tùy vào mức độ bảo lãnh mà phía Ngân hàng Đầu tư sẽ phải đối mặt với những rủi ro nhất định. Tuy nhiên phía Ngân hàng Đầu tư cũng sẽ nhận được mức phí bảo lãnh, phần chênh lệch giá bảo lãnh, tùy thuộc vào phương thức bảo lãnh và các điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh. > Mua bán và Sap nhập (M&A): M&A là việc thực hiện mua bán hoặc sáp nhập giữa các doanh nghiệp với nhau. M&A là khái niệm thuộc phạm vi Tài chính Doanh nghiệp, trong đó các bên tham gia M&A sẽ thực hiện dam phan và định giá giá trị của công ty với các bên còn lại.
Trong một thương vụ M&A, Ngân hàng Đầu tư đóng vai trò là bên thứ 3 khi thực hiện tư vấn cho công ty thuê giá trị của công ty được mua bán, giống với IPO, Ngân hàng Đầu tư sẽ thu phi dựa trên giá trị thương vu. Smith Jr (1986) [3], các bước thực hiện một thương vụ M&A bởi Ngân hàng Đầu tư như sau: e Trong một thương vụ M&A, có 02 bên bao gồm bên mua và bên bán. Ngân hang Đầu tư có thé tham gia vào 01 trong 02 bên này với tư cách đại diện cho người mua hoặc đại diện cho người bán. e Sau khi tham gia một thương vụ M&A, Ngân hang Đầu tư có vai trò tư vấn cho bên tham gia giá trị của thương vụ mà cụ thể là giá trị thực tế của công ty được mua bán.
e Sau khi đã hoàn tất việc định giá, Ngân hàng Dau tư sẽ xây dựng chiến lược thực hiện M&A. e Vì giá trị của một thương vụ M&A rat lớn, nếu công ty thiếu hoặc không đủ vốn cho M&A, Ngân hàng Đầu tư sẽ hỗ trợ công ty phát hành thêm chứng khoán ra thị trường để tăng vốn. Ngân hàng Đầu tư sẽ giúp các công ty nhỏ lập các dự án về sáp nhập, xây dựng lại cấu trúc công ty giúp công ty phù hợp với các mục tiêu chiến lược đề ra. Thành công của một thương vụ M&A phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của Ngân hàng Đầu tư tham gia tư vấn.
> Nghiên cứu chứng khoán (Equity Research): Ngân hàng Đầu tư có một bộ phận riêng biệt gọi là bộ phận Nghiên cứu Chứng khoán. Ở các nước phát triển như Mỹ, Anh, hay các tập đoàn mạnh về tài chính lớn ở Châu Á đều có bộ phận nay. Theo Joshua Rosenbaum và Joshua Pearl (2013) [4], bộ phận Nghiên cứu Chứng khoán về cơ bản họ sẽ đưa ra các nhận định phân tích cho khách hàng về lợi tức đi kèm với rủi ro khi nắm giữ 01 chứng khoán hoặc một danh mục đầu tư. Đối tượng khách hàng của bộ phận Nghiên cứu Chứng khoán là các nhà quản lý danh mục đầu tư, quản lý quỹ đầu tư,.
Bộ phận nghiên cứu cũng xây dựng danh mục đầu tư cho chính Ngân hàng Đầu tư.