Chương 1.Cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm xăng dầu.Thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm xăng dầu của công ty TNHH MTV xăng dầu Bến Tre.Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xăng dầu của công ty TNHH MTV xăng dầu Bến Tre đến năm 2025. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM 1. Những vấn đề chung về năng lực cạnh tranh 1. Khái niệm a) Khái niệm về cạnh tranh Khái niệm về cạnh tranh được định nghĩa là một phạm trù kinh tế cơ bản, tuy nhiên có nhiều trường phái định nghĩa khác nhau về sự cạnh tranh.
Trong đó, một vài định nghĩa theo K.Marx như sau: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu lợi siêu ngạch”. Đối với trường phái kinh tế học của P.Samuelson định nghĩa “Cạnh tranh là sự tranh giành thị trường để tiêu thụ sản phẩm giữa các nhà doanh nghiệp”. Trong cuốn từ điển rút gọn về kinh doanh định nghĩa “Cạnh tranh là sự ganh đua, kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”. Tuy nhiên, một định nghĩa cạnh tranh gần đây nhất của Michael Porter (2009, trang 31) thì “Cạnh tranh là giành lấy thị phần.Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có.
Kết quả của quá trình là sự bình quân hóa lợi nhuận theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi”. Tóm lại, khái niệm về cạnh tranh đưa ra các ý chung như sau: (i) Cạnh tranh chỉ sự ganh đua giữa một (hoặc một nhóm) người nhằm giành lấy phần thắng của nhiều chủ thể cùng tham gia, tức nâng cao vị thế người này nhưng sẽ giảm vị thế người còn lại; (ii) Thông qua nhiều phương thức trực tiếp tác động đến một đối tượng cụ thể nhằm mục đích cuối cùng là kiếm được lợi nhuận cao; (iii) Cạnh tranh diễn ra trong một môi trường cụ thể, trong đó doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ như: đặc điểm sản phẩm, thị trường, các điều kiện pháp lý, các thông lệ kinh doanh… Tổng quát khái niệm cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các tổ chức (doanh nghiệp) nhằm đạt mục tiêu như tăng lợi nhuận, thị phần, và khối lượng bán hàng thông qua sự điều phối các yếu tố hỗn hợp: giá cả, sản phẩm, phân phối và xúc 7 tiến. Thông qua việc thực hiện phân bổ một cách hiệu quả nguồn lực của tổ chức (doanh nghiệp). Theo Michael Porter (2009) hình thức cạnh tranh có nhiều dạng khác nhau như: (i) Cạnh tranh giữa các quốc gia là sự ganh đua về hiệu quả kinh tế vĩ mô, về năng lực của một nền kinh tế giữa các quốc gia với nhau nhằm duy trì mức tăng trưởng bền vững, thu hút đầu tư, đảm bảo ổn định kinh tế xã hội, nâng cao đời sống người dân trên cơ sở các chính sách, thể chế bền vững tương đối; (ii) Cạnh tranh giữa các ngành là sự ganh đua về sự phát triển, tốc độ và hiệu quả phát triển giữa các ngành trong một nền kinh tế, hình thức cạnh tranh này sẽ dẫn tới sự thay đổi về mặt bằng giá của nền kinh tế đó; (iii) Cạnh tranh sản phẩm là sự ganh đua về chất lượng, giá cả, hình thức, mẫu mã…của các sản phẩm cùng loại nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng.
Với quan điểm này, cạnh tranh sản phẩm có nhiều hình thức khác nhau như: cạnh tranh về đặc tính, cạnh tranh về giá cả, cạnh tranh về hình thức, cạnh tranh về thương hiệu, ngoài ra còn cạnh tranh về thị phần. b) Khái niệm về năng lực cạnh tranh cấp độ sản phẩm Năng lực cạnh tranh sản phẩm là tổng hòa các đặc tính về tiêu dùng và giá trị vượt trội của sản phẩm trên thị trường, có nghĩa là sự vượt trội của sản phẩm so với các sản phẩm cạnh tranh cùng loại trong điều kiện cung vượt cầu. Theo (Lê Văn Được, 2004) cho rằng năng lực cạnh tranh sản phẩm là sự vượt trội của nó so với sản phẩm cùng loại do các đối thủ khác cung cấp trên cùng một thị trường. Sự vượt trội đó chính là lợi thế của sản phẩm, nó gồm nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài.
Đó là yếu tố về chất lượng và giá thành sản phẩm, sự đa dạng về chủng loại mẫu mã của sản phẩm, dịch vụ chăm sóc khách hàng đi kèm theo sản phẩm, hàm lượng công nghệ của sản phẩm; bên cạnh đó còn có yếu tố về thương hiệu. Thường một sản phẩm không thể thỏa mãn tốt tất cả các nhu cầu của khách hàng. Trong thực tế, sản phẩm thường chỉ có thể thỏa mãn ở mức tốt nhất một vài nhu cầu còn các nhu cầu khác thường chỉ được thỏa mãn ở mức trên tối thiểu. Vì vậy, doanh nghiệp cần nắm vững lợi thế cạnh tranh sản phẩm của mình trên thị trường để tập trung phát huy lợi 8 thế đó đồng thời nâng cao các mặt chưa phải là thế mạnh để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
Theo Đặng Minh Diệu Huyền (2015, trang 6) cho rằng: “Năng lực cạnh tranh sản phẩm có thể hiểu là sự vượt trội so với các sản phẩm cùng loại về chất lượng và giá cả với điều kiện các sản phẩm tham gia cạnh tranh đều đáp ứng các yêu cầu của người tiêu dùng. Có nghĩa là, một sản phẩm đem lại giá trị sử dụng cao nhất trên một đơn vị giá cả là những sản phẩm có năng lực cạnh tranh cao hơn”. Vai trò của năng lực cạnh tranh Nâng cao năng lực cạnh tranh để cạnh tranh trên thị trường luôn được đặt ra cho các doanh nghiệp khi trên thị trường ngày càng xuất hiện nhiều các đối thủ cạnh tranh với tiềm lực tài chính, công nghệ, quản lý và có sức mạnh thị trường. Nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp là một đòi hỏi cấp bách để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh một cách lành mạnh và hợp pháp trên thị trường.
Với xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế, việc nâng cao năng lực cạnh tranh ở các doanh nghiệp có ý nghĩa hết sức quan trọng và quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp. Mục đích cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là mang lại nhiều lợi nhuận, khi đó việc nâng cao năng lực cạnh tranh tại doanh nghiệp được xem là một việc làm không thể thiếu trong định hướng phát triển và góp phần hoàn thành kế hoạch đề ra của doanh nghiệp. Các cấp độ về năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh được phân biệt thành bốn cấp độ, cụ thể: năng lực cạnh tranh quốc gia, năng lực cạnh tranh cấp ngành, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ. Trong đó năng lực cạnh tranh sản phẩm là loại hình cạnh tranh diễn ra giữa các sản phẩm hay nhóm sản phẩm được hiểu là tương quan về sức cạnh tranh của một sản phẩm hay nhóm sản phẩm so với các sản phẩm hay nhóm sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Một sản phẩm hay nhóm sản phẩm có thể được tiêu thụ mạnh hơn do những ưu thế về giá cả, chất lượng sản phẩm, uy tín sản phẩm, chất lượng của dịch vụ sau bán hàng…Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa lại được định đoạt bởi năng lực cạnh 9 tranh của doanh nghiệp. Sẽ không có năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa cao khi năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm đó thấp. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm có được do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo, nhưng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp không chỉ do năng lực cạnh tranh của sản phẩm quyết định mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác. Mặt khác, năng lực cạnh tranh của sản phẩm lại có ảnh hưởng rất lớn và thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cho rằng một doanh nghiệp được coi là có sức cạnh tranh khi nó có thể đứng vững trên thị trường bằng cách sản xuất ra những sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn hay cung cấp các sản phẩm tương tự với mức giá thấp hơn hay cung cấp các sản phẩm tương tự với các đặc tính về chất lượng hay dịch vụ cao hơn, đáp ứng được thị hiếu khách hàng trong môi trường cạnh tranh (không trợ cấp hay bảo hộ). Một doanh nghiệp cạnh tranh không thành công sẽ bị đẩy ra khỏi thị trường nếu như doanh nghiệp đó không cải thiện được hoạt động của nó. Lợi ích mà một doanh nghiệp đạt được trong cạnh tranh sẽ không tránh khỏi việc gây ra tổn thất cho doanh nghiệp khác là đối thủ cạnh tranh của nó. Cạnh tranh của một doanh nghiệp trong một ngành nào đó mang tính sống còn và được đặc trưng bởi trò chơi mà một bên được thì bên kia phải mất.
Năng lực cạnh tranh cấp ngành theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã định nghĩa là: “Năng lực cạnh tranh của ngành là khả năng của ngành trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp ngành là tổng hợp năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trong một ngành và mối quan hệ giữa chúng. Năng lực cạnh tranh quốc gia là loại cạnh tranh mà mức độ không chỉ dừng lại ở cấp độ sản phẩm và doanh nghiệp. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, cạnh tranh được biết đến phổ biến hơn ở phạm vi toàn cầu, tức là cạnh tranh giữa các quốc gia.
Như vậy, năng lực cạnh tranh cấp quốc gia có thể hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. Những đặc trƣng của kinh doanh sản phẩm xăng dầu 1. Giới thiệu về dầu mỏ a) Định nghĩa về dầu mỏ Dầu mỏ là chất lỏng có màu đen, có độ nhớt, có mùi đặc trưng, khó tan trong nước và hơi nhẹ hơn nước. Nó được khai thác từ lòng đất (bằng cách khoan hút từ dưới lòng đất lên).
Đây là nguyên liệu để sản xuất ra nhiên liệu, dầu - mỡ - nhờn và các sản phẩm hóa học khác. Hiện nay, dầu mỏ là một loại khoáng sản quý.