CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CẠNH TRANH VÀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Các khái niệm và lý thuyết có liên quan 1.1Các khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm về cạnh tranh Hiện nay có khá nhiều khái niệm về cạnh tranh Thuật ngữ “cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng la tinh với nghĩa chủ yếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùng loại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế mục tiêu xác định. Trong hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa chủ thể cung ( nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (nhóm người mua), cả hai nhóm này tiến tới cạnh tranh với nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thị trường. Theo Samuelson (năm 1948): “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng”. Theo Adam Smith (năm 1776): “Cạnh tranh có thể làm giảm chi phí và giá cả sản phẩm, từ đó khiến cho toàn bộ xã hội được lợi do năng suất của các doanh nghiệp tăng lên tạo ra”.
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình”. Có nhiều biện pháp cạnh tranh: cạnh tranh giá cả (giảm giá) hoặc cạnh tranh phi giá cả (Khuyến mãi, quảng cáo) Hay cạnh tranh của một doanh nghiệp, một ngành, một quốc gia là mức độ mà ở đó, dưới các điều kiện về thị trường tự do và công bằng có thể sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ đáp ứng được đòi hỏi của thị trường, đồng thời tạo ra việc làm và nâng cao được thu nhập thực tế. Vì vậy, ngày nay hầu hết các nước đều thừa nhận và coi cạnh tranh không chỉ là môi trường mà nó còn là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Do vậy cạnh tranh có thể nói là sự phấn đấu vươn lên giành vị trì đứng đầu trong lĩnh vực hoạt động bằng cách cập nhật sử dụng công nghệ tiên tiến, nghiên cứu tạo ra sản phẩm tối ưu.2 Khái niệm về năng lực cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Theo quan điểm của diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) định nghĩa: “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng cạnh tranh, năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý trí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu doanh nghiệp đề ra”.
Theo quan điểm tổng hợp của Wan Buren, Martin và Westqren (năm 1991): Khả năng cạnh tranh của một ngành, một doanh nghiệp là khả năng tạo ra và duy trì lợi nhuận và thị phần trên các thị trường trong và ngoài nước. Như vậy, có thể hiểu khả năng cạnh tranh của một doanh nghiệp là năng lực mà doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài và có ý chí trên thị trường cạnh tranh, đảm bảo việc thực hiện một tỷ lệ lợi nhuận ít nhất bằng tỷ lệ đòi hỏi cho việc tài trợ những mục tiêu của doanh nghiệp, đồng thời thực hiện những mục tiêu mà doanh nghiệp đề ra. Năng lực canh tranh của doanh nghiệp được tạo ra từ thực lực của doanh nghiệp và là các yếu tố nội hàm của mỗi doanh nghiệp. Năng lực cạnh tranh không chỉ được tính bằng các tiêu chí về công nghệ, tài chính, nhân lực, tổ chức quản trị doanh nghiệp, … mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn liền với ưu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp gắn với thị phần mà nó nắm giữ, cũng có quan điểm đồng nhất của doanh nghiệp với hiệu quả sản xuất kinh doanh… Năng lực cạnh tranh còn có thể được hiểu là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện tại và làm nảy sinh thị trường mới.2 Phân loại năng lực cạnh tranh 1.1 Năng lực cạnh tranh của quốc gia Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới(WEF) năm 1997 thì năng lực cạnh tranh quốc gia là “khả năng của nền kinh tế quốc dân đạt được và duy trì mức tăng trưởng trên cơ sở các chính sách, thể chế và các đặc trưng kinh tế khác tương đối vững chắc”. Như vậy, năng lực cạnh tranh quốc gia có thể được hiểu là việc xây dựng một môi trường cạnh tranh kinh tế chung, đảm bảo phân bố có hiệu quả các nguồn lực, để đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, các nước đang áp dụng các chỉ số theo các tiếp cận của WEF được sử dụng từ năm 1997 đến 1999 cũng như chỉ số cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index – GCI) và chỉ số cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index – CCI) được sử dụng từ năm 2000. Theo WEF (1997) có 8 nhân tố xác định năng lực cạnh tranh quốc gia bao gồm: độ mở kinh tế, chính phủ, thể chế, tài chính, công nghệ,lao động, kết cấu hạ tầng, quản trị.
Đến năm 2000, chỉ số cạnh tranh quốc gia của WEF được sử dụng từ năm 1997 kết hợp với hai chỉ số mới: chỉ số năng lực cạnh tăng trưởng (GCI) và chỉ số năng lực cạnh hiện tại (CCI). Các chỉ số này được xây dựng chủ yếu dựa trên quan điểm về khả năng cạnh tranh quốc gia của M.Warner và các kinh tế gia của WEF.2 Năng lực cạnh tranh ngành Trong cạnh tranh ngành có chủ thể cạnh tranh là ngành. Nhưng do khái niệm ngành khá trừu tượng và khó tách bạch rõ ràng phạm vi ngành nên cạnh tranh ngành có ý nghĩa gần với cạnh tranh nhóm sản phẩm (như cạnh tranh ngành dệt may thực ra là cạnh tranh nhóm sản phẩm dệt may). Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng đạt năng suất cao, sử dụng đầu vào thấp nhất để tạo được nhiều đầu ra nhất trong một ngành.
Cũng có cách tiếp cận khác, Năng lực cạnh tranh của một ngành là khả năng của ngành đó trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Cách tiếp cận này sát với thực tiễn khi người ta đánh giá so sánh Năng lực cạnh tranh của một ngành giữa các quốc gia khác nhau. Một số tiêu chí đánh giá Năng lực cạnh tranh ngành là mức lợi nhuận bình quân ngành, tỷ trọng của ngành trong cơ cấu kinh tế, các sản phẩm mũi nhọn của ngành, hệ số lợi thế so sánh hiện hữu (RCA – Revealed Comparative Advantage: xác định trên cơ sở tỷ lệ giữa tỷ trọng xuất khẩu một mặt hàng của một quốc gia trong tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng đó của quốc gia với tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng đó của thế giới so với tổng kim ngạch xuất khẩu của thế giới trong một năm), tỷ lệ nội địa hóa, số lượng các bằng phát minh và sáng chế trong ngành, mức vốn đầu tư, tốc độ phát triển của ngành công nghiệp cơ bản và công nghiệp hỗ trợ (bổ trợ). Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến Năng lực cạnh tranh ngành, có thể chia theo các nhóm nhân tố sau: điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên; trình độ phát triển LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 khoa học – công nghệ; nguồn nhân lực; kết cấu hạ tầng; trình độ tổ chức quản lý ngành; thể chế kinh tế – xã hội.3 Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Một doanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh và được đánh giá là có thể đứng vững cùng các nhà sản xuất khác thì các sản phẩm cung ứng ra thị trường có chất lượng cao và có mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnh tranh.
Theo cách đơn giản nhất chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năn gnawsm giữ thị phần nhất định với mức độ hiệu quả chấp nhận được, vì vậy khi thị phần tăng lên cho thấy năng lực cạnh tranh nâng cao. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng hãng đó có bán được hàng nhanh, nhiều hơn so với đối thủ cạnh tranh trên một thị trường cụ thể về một loại hàng cụ thể. Trong quản trị chiến lược, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp có đạt được tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với tỷ suất lượi nhuận bình quân của ngành.Khái niệm này chỉ rõ bản chất của lợi thế cạnh tranh là hướng tới mục tiêu lợi nhuận nhưng lại không giúp nhiều cho việc phân tích các yếu tố tạo nên năng lực cạnh tranh, đặc biệt trong bối cạnh cạnh tranh quốc tế.Tổng hợp các quan điểm trên thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị trường cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.3 Các lý thuyết cơ bản về cạnh tranh Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh của M.porter Theo Michael Porter thì năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được tìm thấy qua phân tích chuỗi giá trị. Mô hình chuỗi giá trị của Michael Porter Hình 1.1:Mô hình chuỗi giá trị Nguồn: “lợi thế cạnh tranh” của Michael Porter vào năm 1985 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Chuỗi giá trị bao gồm 3 thành phần: Hoạt động chính: Bao gồm các hoạt động diễn ra theo thứ tự nối tiếp nhau.
Nhóm hoạt động này liên quan trực tiếp đến việc tạo ra giá trị cho sản phẩm. Các hoạt động trong nhóm này gồm: Vận chuyển đầu vào (Inbound Logistics): Nhận hàng, vận chuyển, lưu trữ nguyên liệu đầu vào Chế tạo (Operations): Tạo ra sản phẩm Vận chuyển đầu ra (Outbound Logistics): Vận chuyển thành phẩm, lưu giữ trong các kho bãi Tiếp thị và bán hàng (Marketing and Sales): Giới thiệu sản phẩm, bán sản phẩm Dịch vụ (Service): Bảo hành, sửa chữa, hỗ trợ khách hàng Hoạt động hỗ trợ: Bao gồm các hoạt động song song với hoạt động chính nhằm mục đích hỗ trợ cho việc tạo ra sản phẩm. Đây là các hoạt động gián tiếp góp phần tạo ra giá trị cho sản phẩm.