CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỈ SỐ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP TỈNH (PCI) 1. Cơ sở lý luận về chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh và chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh 1. Khái niệm về năng lực cạnh tranh Trên thế giới, năng lực cạnh tranh là khái niệm được hiểu theo nhiều cách khác nhau, chưa có sự thống nhất.
Tuy nhiên, hiện nay thế giới sử dụng nhiều khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, người sáng lập ra lý thuyết cạnh tranh.Porter thì năng lực cạnh tranh một quốc gia được đo bằng sự thịnh vượng, thể hiện qua thu nhập bình quân đầu người và chất lượng sống. Sự thịnh vượng chủ yếu do năng suất và huy động lao động vào quá trình tăng trưởng quyết định. Do đó, trong khái niệm năng lực cạnh tranh của M.Porter, năng suất là yếu tố quyết định tiêu chuẩn sống bền vững. Với khái niệm này, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng có nghĩa là đóng góp và nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của nền kinh tế.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành dưới dạng năng lực cạnh tranh quốc gia. Nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành là quá trình nâng cao chất lượng tăng trưởng và hiệu quả của kinh tế của một tỉnh, thành. Năng lực cạnh tranh của tỉnh, thành phụ thuộc vào năng suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên và nguồn vốn có một tỉnh, thành. - Năng suất lao động thay đổi, cho nên có thể tác động tới tiêu dùng và ảnh hưởng quyết định mức sống của người dân.
Khi năng suất lao động tăng lên làm cho đồng lương mà người lao động nhận được nhiều hơn. Chủ đầu tư thu được lợi nhuận nhiều hơn, tỷ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra tăng lên. Bên cạnh đó, tài giá trị đóng góp vào sản phẩm cũng tăng lên là cho tỷ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên cũng tăng lên. Suy cho cùng năng suất xác định mức sống của người dân có bền vững hay không?.
6 - Năng lực cạnh tranh được các tỉnh chú trọng tới để có thể phát triển hơn nữa kinh tế của tỉnh. Các tỉnh cần phải nắm được năng lực cạnh tranh không phải là một tỉnh cạnh tranh trong lĩnh vực nào đó để phát triển mà là tỉnh đó cạnh tranh hiệu quả như thế nào trong các lĩnh vực. - Năng suất của một tỉnh có được từ sự kết hợp của các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Các doanh nghiệp trong và ngoài nước là nơi sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng trong và ngoài nước.
Cần có sự kết hợp giữa các doanh nghiệp này để thúc đẩy quá tŕnh sản xuất và xuất khẩu hàng hóa được thuận lợi. - Năng suất của các ngành nghề trong tỉnh là căn bản của năng lực cạnh tranh, chứ không phải là năng lực cạnh tranh một ngành nghề xuất khẩu. Các ngành nghề sản xuất trong tỉnh là cơ sở để nâng cao năng lực cạnh tranh. Chỉ khi đạt được năng suất cao của các ngành nghề này thì mới có thể thúc đẩy quá trình phát triển tổng hợp.
Nó là tiền đề để các ngành xuất khẩu phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Do vậy, các tỉnh cạnh tranh trong việc tạo ra môi trường kinh doanh hiệu quả nhất (mang lại năng suất cao nhất). Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân đóng các vai trò khác nhau nhưng lại liên quan với nhau trong việc tao ra một nền kinh tế có năng suất cao. Khái niệm năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Khái niệm: Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI (viết tắt của Provincial Competitiveness Index) là chỉ số đánh giá và xếp hạng đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của chính quyền cấp tỉnh trong việc tạo lập môi trường chính sách phù hợp để phát triển kinh tế tư nhân.
Như vậy có thể hiểu năng lực cạnh tranh cấp tỉnh là khả năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đó so với tỉnh khác dựa trên lợi thế so sánh và nguồn lực con người của mình. Do đó có thể thấy, các yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh của một tỉnh, thành phố bao gồm: - Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô: + Chất lượng của môi trường kinh doanh cấp tỉnh. + Tình hình phát triển các ngành nghề. + Trình độ vận hành và lập chiến lược ở cấp công ty.
7 - Năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô: + Chính sách kinh tế vĩ mô + Hạ tầng xã hội và các định chế chính trị - Các lợi thế tự nhiên. Dựa trên những quy định của Nhà nước, tỉnh đưa ra các chính sách kinh tế vĩ mô, hạ tầng xã hội và các định chế chính trị phù hợp với thực tế của địa phương. Đây được coi là tiền đề mang tính định hướng phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh. Do vậy, có thể thấy năng lực cạnh tranh kinh tế vĩ mô tạo ra tiềm năng đạt năng suất cao, nhưng chưa đủ.
Năng lực cạnh tranh kinh tế vi mô mới là yếu tố quyết định tới phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường đầu tư. Một tỉnh được đánh giá là có năng lực cạnh tranh khi mà môi trường đầu tư của một tỉnh đối với khu vực kinh tế tư nhân được các doanh nghiệp đánh giá dễ dàng và thuận lợi trong việc đầu tư và triển khai các hoạt động sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Khi mà chất lượng của môi trường kinh doanh cấp tỉnh được nâng cao sẽ thu hút đầu tư hiệu quả.
Quá trình chuyển dịch cơ cấu tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp đúng hướng, và sự phát triển của các ngành nghề góp phần tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng sống của người lao động. Đối với các doanh nghiệp, quá trình vận hành và lập chiến lược ở cấp công ty đưa ra hướng đi đúng đắn cho doanh nghiệp, đây là điều làm tăng năng suất lao động. Năng suất thực sự phụ thuộc vào việc cải thiện năng lực kinh tế tầm vi mô và trình độ cạnh tranh của các doanh nghiệp trong tỉnh. Các lợi thế tự nhiên được coi là các lợi thế khách quan và tạo ra điều kiện tốt cho tỉnh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
Đây có thể coi là một yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của tỉnh. Hiện nay, mục tiêu của hầu hết các tỉnh là nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh mình để tìm kiếm và phát triển khu vực kinh tế tư nhân nhằm nâng cao tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, nên cần kết hợp đồng bộ các yếu tố quyết định tới năng lực cạnh tranh một cách phù hợp. Quy trình xây dựng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh Để xây dựng chỉ số PCI cần tiến thành theo ba bước chính đó là: Thu thập số liệu, Xử lý dữ liệu để xây dựng các chỉ số thành phần, Xây dựng chỉ số tổng hợp PCI. Trong đó: Bước 1: phương pháp thu thập số liệu xây dựng chỉ số PCI Quá trình thu thập số liệu để xây dựng chỉ số PCI gồm có: thứ nhất, các chuyên gia nghiên cứu tiến hành điều tra các các doanh nghiệp trong nước đảm bảo mẫu đại diện đủ lớn, có thể đại diện cho tổng thể mẫu các doanh nghiệp trong cả nước để thu thập thông tin đánh giá của các doanh nghiệp.
Thứ hai, nhóm nghiên cứu tiến hành thu thập các nguồn số liệu chính thống đã được công bố ở địa phương. Mục tiêu là kết hợp cả số liệu khách quan (số liệu “cứng”) và số liệu chủ quan (số liệu “mềm”: thể hiện cảm nhận đánh giá của các doanh nghiệp được điều tra), để có thể cho những kết quả đáng tin cậy hơn so với chỉ sử dụng một trong hai loại số liệu trên. Số liệu “mềm”: Để có thể điều tra và thu thập số liệu “mềm”, các chuyên gia sử dụng phương pháp chọn mẫu nào? Cơ sở chọn mẫu ra sao? Công cụ thu thập và sử lý thế nào? Và phương pháp điều tra cần tiến hành như thế nào?. - Về Phương pháp chọn mẫu được VCCI sử dụng là phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên.
Phương pháp này cho phép cơ hội lựa chọn điều tra tất cả các doanh nghiệp là như nhau, và việc phân tầng sẽ đảm bảo các doanh nghiệp được lựa chọn sẽ đáp ứng những tiêu chí chính đại diện cho tổng thể doanh nghiệp tư nhân. Trong điều tra PCI, doanh nghiệp được phân tầng theo ngành, nghề hoạt động kinh doanh; tuổi của doanh nghiệp (tính từ thời điểm thành lập); loại hình sở hữu doanh nghiệp. - Cơ sở chọn mẫu: việc lựa chọn doanh nghiệp dựa trên danh sách của các doanh nghiệp đang nộp thuế ở mỗi địa phương từ Tổng cục thuế. Trên cơ sở đó, nhóm nghiên cứu chọn mẫu doanh nghiệp điều tra theo 24 tiêu chí phân tổ dựa trên loại hình, ngành kinh tế và theo tuổi của doanh nghiệp tương ứng tỷ lệ của từng địa phương, tranh tình trạng mẫu điều tra tập 9 trung ở những thành phố lớn.
Các doanh nghiệp được chọn đảm bảo mang tính đại diện cao nhất cho mỗi tổ. - Công cụ thu thập: phiếu điều tra các năm cơ bản là giống nhau, phiếu gồm 60 câu hỏi về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đánh giá của doanh nghiệp về 12 khía cạnh khác nhau trong hoạt động quản lý và điều hành kinh tế của chính quyền địa phương. - Phương pháp điều tra: cơ nghiên cứu gửi bộ câu hỏi điều tra qua bưu điện đến các doanh nghiệp (năm 2010 VCCI gửi phiếu điều tra tới 7.300 doanh nghiệp trong nước và 1.115 doanh nghiệp FDI). Sau khi nhận được trả lời của doanh nghiệp, cơ quan nghiên cứu sử dụng các trợ giúp kỹ thuật nhằm loại bỏ các sai số không đáng tin cậy.
Số liệu “cứng’’: Các phương pháp được cơ quan nghiên cứu sử dụng thu thập số liệu như: lấy ý kiến chuyên gia; sử dụng bộ câu hỏi so sánh; và số liệu thống kê. - Lấy ý kiến chuyên gia: thu thập ý kiến của các chuyên gia về chất lượng quản lý và điều hành đối với từng tỉnh để hiệu chính những sai lệch trong đánh giá của các doanh nghiệp trong tính toán chỉ số cuối cùng.