CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan nghiên cứu về năng lực cạnh tranh địa phương 1.
Các công trình nghiên cứu quốc tế Cho tới nay, các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về cạnh tranh, NLCT là rất phong phú. Không những NLCT được xem xét dưới góc độ vi mô mà còn được nhìn nhận dưới góc độ vĩ mô, với vai trò là khả năng, sức bật tiềm năng của một nền kinh tế. Tuy nhiên, các quan điểm này cũng không đồng nhất và thay đổi theo chiều dài lịch sử. Hệ thống các nghiên cứu lý thuyết Trên thực tế, so với nhiều chủ đề kinh tế khác, NLCT là chủ đề xuất hiện muộn nhưng lại giành được nhiều sự chú ý.
Nếu như những quan điểm sơ khai về cạnh tranh xuất hiện từ rất lâu thì phải đến những năm 1980-1990, các tìm hiểu về NLCT mới được làm rõ. Sự phát triển của các lý thuyết giúp giải thích lợi thế cạnh tranh đã chiếm sự quan tâm của cộng đồng quản lý trong gần nửa thế kỷ qua (từ năm 1980 đến nay). Trong quá trình nghiên cứu về chủ đề này, có ba trường phái với các quan điểm trở lên vượt trội, đó là: trường phái cổ điển, trường phái tân cổ điển và trường phái hiện đại. Hệ thống các quan điểm của trường phái Cổ điển: trường phái cổ điển quan tâm chủ yếu đến cạnh tranh của quốc gia hơn là cạnh tranh ở doanh nghiệp hay sản phẩm hàng hóa.
Cách tiếp cận cổ điển tập trung chủ yếu vào khả năng cạnh tranh ở cấp độ vĩ mô (khu vực, quốc gia, địa phương). Dường như có ảnh hưởng và nổi bật nhất trong giai đoạn này là khái niệm về bàn tay vô hình của Adam Smith, khái niệm lợi thế so sánh của David Ricardo, lý thuyết của Schumpeter về doanh nhân và đổi mới. Ngoài ra còn có một bộ các lý thuyết và khái niệm trực tiếp giải quyết mối quan hệ giữa NLCT và cấu trúc thị trường (cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền nhóm, sự độc quyền). 5 Hệ thống các quan điểm của trường phái tân cổ điển : đến trường phái tân cổ điển, bản chất và khái niệm cạnh tranh đã được đề cập đến một cách cụ thể hơn.
Tuy nhiên, hiểu về cạnh tranh cũng là một khái niệm mang nhiều mâu thuẫn. Đặc điểm chung của giai đoạn này là sự chấp nhận rộng rãi mô hình kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước giảm. Do đó, các lý thuyết cạnh tranh trong giai đoạn này chủ yếu nghiêng về nghiên cứu hành vi và doanh nghiệp, ít đề cập đến cạnh tranh cấp độ địa phương. Hoặc, ở một mặt nào đó, năng lực cạnh tranh địa phương chỉ được đề cập đến ở vai trò nâng cao năng lực cạnh tranh doanh nghiệp sẽ góp phần nâng cao năng lực chung của quốc gia đó (John Clark, 1961, Joseph, 1942, Wroe, 1937).
Hệ thống nghiên cứu đương đại về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh: các lý thuyết cạnh tranh hiện đại đã đề cập nhiều hơn về cạnh tranh địa phương. Nghiên cứu trong giai đoạn này chủ yếu đi tìm vai trò của cạnh tranh, các yếu tố tác động đến cạnh tranh và cách để đẩy mạnh các yếu tố đó. Đến giai đoạn này, các cơ sở lý luận về cạnh tranh địa phương cấp vùng mới bắt đầu được đề cập và phát triển, tạo tiền đề quan trọng cho việc nghiên cứu cạnh tranh cấp địa phương. Năng lực cạnh tranh trong một đơn vị hành chính được nhiều tác giả đánh giá là khả năng sử dụng nguồn lực có hạn có địa phương để điều hành và quản lý kinh tế một cách hợp lí, mang lại lợi ích bền vững cho địa phương đó (Gorden & Cheshire (1998), Cuadrado R.
Một địa phương có sự cạnh tranh tốt hơn là địa phương có: chi phí cố định thấp hơn; chi phí nhân công cạnh tranh hơn, có chiến lược phát triển các ngành nghề tốt (chuyên môn hóa, hoặc đa dạng các ngành nghề) (Gordon & Cheshire, 1998), đáp ứng các nhu cầu cơ sở hạ tầng, chương trình hỗ trợ; cung cấp tốt dịch vụ công cộng, giảm chi phí kinh doanh (Ming, 2009). Như vậy với bề dày lịch sử phát triển các lý thuyết kinh tế đã khẳng định vai trò không thể thiếu và tính tất yếu của cạnh tranh. Xét riêng về cạnh tranh địa phương thì hầu hết các nghiên cứu mới đề cập đến cạnh tranh ở cấp độ khu vực, quốc gia. Hệ thống nghiên cứu quốc tế đang thiếu hụt các nghiên cứu về địa phương cụ thể.
Tuy nhiên, xét về lý thuyết, cơ sở lý luận về cạnh tranh là khá vững chắc, có thể áp dụng cho trường hợp của một địa phương nhất định, thông qua các điều chỉnh hợp lý theo tình hình của địa phương đó. Hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm Đã có một số công trình nghiên cứu thực nghiệm, tổng quan trên diện rộng về các quan điểm của cạnh tranh và các yếu tố tác động. Đặc trưng cơ bản của các nghiên cứu thực nghiệm là dựa trên các số liệu, bằng chứng thực tế, đánh giá khách quan. Các chủ đề chính mà nghiên cứu thực nghiệm quan tâm là: vai trò của cạnh tranh, các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, và phương pháp đo lường.
Vai trò của cạnh tranh Vai trò của cạnh tranh là một chủ đề gây nhiều tranh cãi trong các nghiên cứu thực nghiệm. Các nhà nghiên cứu, quản lý không chỉ quan tâm đến vai trò của cạnh tranh với từng doanh nghiệp mà còn chú ý tới tác động của cạnh tranh đến tổng hòa các điều kiện kinh tế xã hội của một quốc gia. Stephane Ciriani & Fran (2019) tìm thấy mối liên quan mạnh mẽ giữa thúc đẩy cạnh tranh và năng suất lao động. Trong dài hạn tăng trưởng năng suất dài hạn có thể tăng 2,25% nếu ngành đạt mức năng suất tối ưu.
Roberto & Aldo (2016) sử dụng năng suất các yếu tố tổng hợp (TFP) là thước đo lường. Nghiên cứu thực nghiệm thống kê dữ liệu của khoảng 4. Kết quả cũng chỉ ra rằng cạnh tranh có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng TFP cho các công ty trong nước còn tụt hậu. Tuy nhiên, kết quả các đề tài trên vẫn gây nhiều tranh khi mức năng suất tối ưu mà mỗi ngành có thể đạt được là con số chưa thuyết phục.
Vai trò của cạnh tranh còn được tìm thấy khi cạnh tranh hiệu quả làm cho bất kỳ nền kinh tế thị trường nào hoạt động mà không gặp trở ngại (Mazylkina và Panichkina, 2009). Tuy nhiên, hạn chế của các đề tài này là mới chỉ xem xét ở các doanh nghiệp lớn và ở phạm vi một hoặc một vài quốc gia. Trong khi, thực tế ở các nước châu Á, số DNVVN chiếm đông đảo, là đối tượng chính cần xem xét khi nghiên cứu về cạnh tranh. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Với hướng tiếp cận các nhân tố ảnh hưởng đến cạnh tranh, Tomasz & Aldona (2014) tổng hợp lại các nghiên cứu trước đó và kết luận rằng, cạnh tranh được xem xét dưới ba góc độ chính: (i) cạnh tranh sản phẩm (Adamkiewicz-Drwiłło,2002, 7 Jaffe, Palmer, 1997); (ii) cạnh tranh doanh nghiệp (Ajitabh & Momaya ,2004, Chao-Hung & Li-Chang, 2010), và (iii) cạnh tranh tại quốc gia, địa phương (Altomonte và cộng sự, 2012, Ủy ban châu Âu, 2001).
Với giới hạn phạm vi của đề tài, bài viết tập trung nghiên cứu về cạnh tranh trong phạm vi thứ ba – cạnh tranh tại quốc gia, địa phương. Richard (2005) cho rằng sức mạnh và sự năng động của các nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào khả năng thích ứng của các doanh nghiệp địa phương thay đổi thị trường và công nghệ bằng cách liên tục giới thiệu các sản phẩm thương mại khả thi, dịch vụ và quy trình sản xuất - nghĩa là bằng cách đổi mới thành công. Những phát hiện này dựa trên nghiên cứu từ 22 địa điểm thuộc 06 quốc gia (Mỹ, Phần Lan, Anh, Đài Loan, Nhật Bản và Nauy) trong khoảng dữ liệu từ năm 2002-2005. Phương pháp nghiên cứu chính chủ yếu dựa trên dữ liệu thứ cấp, kết hợp phỏng vấn sâu.
Phương pháp đo lường năng lực cạnh tranh Việc đo lường NLCT địa phương cũng đã được cân nhắc và xem xét. Tuy nhiên, trên bình diện toàn cầu, hiện nay cũng chưa thống nhất cách đo lường. Trong đó, WEF (diễn đàn kinh tế thế giới) cũng đã đưa ra bộ chỉ số riêng của mình (GCI – Chỉ số cạnh tranh quốc gia), xếp hạng 138 nền kinh tế. Kết quả đánh giá về độ thịnh vượng của các quốc gia của WEF cung cấp những dữ liệu quan trọng, mang tính tham khảo cho các địa phương.
Viện nghiên cứu phát triển kinh doanh Thụy Sỹ cũng đưa ra bộ chỉ số riêng. Bên cạnh đó, Doing Business (chỉ số về môi trường kinh doanh) do Ngân hàng thế giới (WB) và IFC (tổ chức tài chính quốc tế) xây dựng cũng là một chỉ số mang tính tham khảo tốt cho các quốc gia. Các công trình nghiên cứu trong nước Mặc dù cạnh tranh xuất hiện cùng với sự xuất hiện từ khá lâu đời, tiềm ẩn trong mối quan hệ sản xuất và trao đổi hàng hóa, tuy nhiên, phải đến những năm sau 1986, khái niệm cạnh tranh mới trở nên gần gũi trong các nghiên cứu ở Việt Nam. Lý giải cho hiện tượng này có thể bắt nguồn từ thái độ khá thận trọng của Chính phủ sau giai đoạn giành được độc lập.
Các nghiên cứu lý thuyết trong nước cũng theo xu hướng chung của quốc tế, tập trung nghiên cứu về cạnh tranh và NLCT theo 2 cấp độ: vi mô và vĩ mô. 8 Nghiên cứu lý thuyết về năng lực cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp chủ yếu tìm hiểu về các yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh vi mô trên thực tế và các giải pháp cải thiện năng lực đó. Các yếu tố này khá đa dạng, phụ thuộc nhiều vào mẫu nghiên cứu. Có thể kể đến các yếu tố như: chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng quảng bá sản phẩm, sáng tạo và đổi mới (Nguyễn Đình Thọ và Nguyễn Mai Trang,2009); kết quả kinh doanh, sự hội nhập toàn diện, chính sách địa phương.
Hạn chế chủ yếu của các nghiên cứu này là chỉ thực hiện ở một địa phương nhất định. Do đó, kết quả có thể khác nhau nếu áp dụng phân tích tại các địa phương khác nhau. Đánh giá về năng lực cạnh tranh của một địa phương, Huỳnh Thế Du và cộng sự (2016) cho rằng tinh thần doanh nhân công cộng, liên minh ủng hộ và sự tham gia của các đối tác là ba nhân tố quyết định. Tác giả cũng hiệu chỉnh từ khung phân tích của M.