Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu của doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Hoàng Mai Chương 4: Định hướng phát triển và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm bánh kẹo xuất khẩu sang thị trường Mỹ của Công ty TNHH Thương mại và Sản xuất Hoàng Mai 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM XUẤT KHẨU CỦA DOANH NGHIỆP 2. Lý thuyết cơ bản về cạnh tranh 2. Khái niệm về cạnh tranh “Cạnh tranh” là một cụm từ được sử dụng rất phổ biến từ lâu trong nhiều lĩnh vực như thương mại, chính trị, kinh tế, giáo dục,. Do đó, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có rất nhiều khái niệm về thuật ngữ này được đưa ra từ nhiều tác giả ở nhiều quốc gia khác nhau.
Marx đưa ra khái niệm “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch”. Theo nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter:“Cạnh tranh trong kinh tế là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có”. Theo cuốn Kinh tế học của P.
Samuelson (xuất bản lần thứ 12) thì : “Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trường”. Trích cuốn Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp (1999), Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc gia và cùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (tập 1) thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh) là hoạt động tranh đua giữa những người cùng sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung - cầu, nhằm dành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ thị trường có lợi nhất”. Ngoài ra, còn có rất nhiều các quan điểm định nghĩa khác về thuật ngữ cạnh tranh của các nhà nghiên cứu, song, qua một số các định nghĩa nêu trên ta có thể tiếp cận khái niệm cạnh tranh như sau: “Cạnh tranh là quá trình mà các chủ thể kinh tế tranh đua với nhau để giành lấy những điều kiện thuận lợi nhất về thị trường và trong hoạt động sản xuất kinh doanh để tạo ra lợi ích kinh tế lớn hơn cho mình khi tham gia thị trường”.
Khái niệm về năng lực cạnh tranh Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa “Năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”. Trích cuốn Lợi thế cạnh tranh (NXB Trẻ, Hồ Chí Minh, 2010), nhà kinh tế học người Mỹ Michael Porter định nghĩa rằng: “Năng lực cạnh tranh của công ty có thể hiểu là khả năng chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ các sản phẩm cùng loại (hay sản phẩm thay thế) của công ty đó. Năng lực giành giật và chiếm lĩnh thị trường tiêu thụ cao thì doanh nghiệp đó có năng lực cạnh tranh cao. Michael Porter không bó hẹp ở các đối thủ cạnh tranh trực tiếp mà ông mở rộng ra cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn và các sản phẩm thay thế”.
Tổng kết lại, ta có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là “Năng lực chiếm lĩnh thị trường và các ưu thế trong hoạt động kinh doanh nhằm thu về lợi ích kinh tế vượt trội”. Như vậy, năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp có thể được xem xét và đánh giá dựa trên nhiều yếu tố như yếu tố về lao động (năng suất lao động, chất lượng lao động), sản xuất (công nghệ kỹ thuật, điều kiện sản xuất, quy mô sản xuất), giá cả, mạng lưới tiêu thụ,…cùng nhiều yếu tố về kinh tế và xã hội khác. Các cấp độ cạnh tranh và lực lượng cạnh tranh ❖ Các cấp độ cạnh tranh Từ những định nghĩa đã nêu ở phần trên, có thể thấy năng lực cạnh tranh là một khái niệm phức hợp, tùy theo quy mô áp dụng mà sẽ trở thành những khái niệm khác nhau. Tuy nhiên ở bài nghiên cứu này, chúng ta sẽ phân tích khái niệm năng lực cạnh tranh ở 3 cấp độ quy mô khác nhau: quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm.
- Năng lực cạnh tranh quốc gia Theo Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF – World Economic Forum): “Năng lực cạnh tranh quốc gia là năng lực là khả năng đạt được và duy trì mức tăng trưởng nền kinh tế cao trên cơ sở các chính sách, thể chế tương đối bền vững và các đặc trưng kinh tế khác”. Năng lực cạnh tranh quốc gia phụ thuộc vào hiệu suất sử dụng nguồn lực con người, tài nguyên về vốn của một quốc gia. Bởi chính năng suất xác định mức sống bền vững được thể hiện qua mức lương, tỉ suất lợi nhuận từ vốn bỏ ra, tỉ suất lợi nhuận thu được từ tài nguyên thiên nhiên. Cũng theo WEF, năng lực cạnh tranh được xác 9 định bởi các nhân tố như: Độ mở của nền kinh tế, năng lực đầu tư, năng lực của Chính phủ, năng lực tài chính, khoa học và công nghệ, cơ sở hạ tầng, năng lực quản lý, lao động và thể chế.
Nhìn chung, năng lực cạnh tranh của quốc gia là tổng hòa các yếu tố tạo nên lợi thế của một quốc gia trong các lĩnh vực kinh tế so với các quốc gia khác trên thế giới. Phản ánh năng lực của một nền kinh tế có thể tạo ra tăng trưởng bền vững cho quốc gia nói chung và nâng cao thu nhập cho người dân ở quốc gia đó nói riêng trong môi trường đầy cạnh tranh chung trên thế giới. - Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Nhà kinh tế học Michael Porter (1985) đã mô tả về lợi thế cạnh tranh như sau: “Lợi thế cạnh tranh đến từ các giá trị của doanh nghiệp có khả năng mang lại cho người mua những giá trị cao hơn chi phí tạo ra chúng. Giá trị là những gì người mua sẵn sàng chi trả, những mặt hàng có giá trị cao với việc đưa ra mức giá thấp hơn đối thủ cạnh tranh cho những lợi ích tương tự hoặc mang lại những lợi ích riêng biệt bù đắp lại mức giả cao được đưa ra.
Có hai loại lợi thế cạnh tranh cơ bản: Dẫn đầu về chi phí và sự khác biệt." Theo nhà kinh tế học người Bỉ Marcel Fafchamps (1999), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng doanh nghiệp đó có thể sản xuất sản phẩm với chi phí biến đổi trung bình thấp hơn giá của nó trên thị trường – có nghĩa là doanh nghiệp nào có khả năng sản xuất ra sản phẩm có chất lượng tương tự như sản phẩm của doanh nghiệp khác, nhưng với chi phí thấp hơn thì được coi là có khả năng cạnh tranh cao hơn. Còn theo Dunning (1993), sức cạnh tranh là khả năng cung ứng sản phẩm của chính doanh nghiệp đó trên các thị trường khác nhau mà không phân biệt nơi bố trí của doanh nghiệp. Theo D'Cruz (1992), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng của doanh nghiệp trong việc thiết kế, sản xuất và Marketing các sản phẩm vượt trội hơn so với các đối thủ cạnh tranh, xét cả về khía cạnh giá cả lẫn các khía cạnh phí giá. Như vậy, thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Nhưng tóm lại, phần lớn năng lực cạnh tranh doanh nghiệp được 10 cấu thành bởi các yếu tố như chi phí của sản phẩm, khả năng cung ứng, giá và các đặc điểm nổi trội của sản phẩm. - Năng lực cạnh tranh sản phẩm Cho đến nay, các nhà nghiên cứu kinh tế vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất nào về thuật ngữ năng lực cạnh tranh sản phẩm. Các quan điểm được đưa ra đều dựa trên khái niệm về năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp. Thể hiện mối quan hệ mật thiết và phụ thuộc lẫn nhau giữa năng lực cạnh tranh của sản phẩm đối với năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp.
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố chính yếu, quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và cũng chính năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ tác động trực tiếp tới đặc điểm và xu hướng cạnh tranh của sản phẩm. Mà năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp – bị ảnh hưởng và quyết định rất lớn bởi chính sách năng lực cạnh tranh của quốc gia. Theo một số nhà nghiên cứu kinh tế, năng lực cạnh tranh của sản phẩm chính là năng lực chiếm lĩnh nhiều thị phần và duy trì vị trí tốt của loại sản phẩm do một doanh nghiệp đem ra để tiêu thụ so với sản phẩm cùng loại của các doanh nghiệp cung ứng khác đem đến tiêu thụ ở cùng một khu vực thị trường và thời gian nhất định. Như vậy, có thể khái quát rằng, năng lực cạnh tranh của sản phẩm là ưu thế của nó về định tính hoặc định lượng so với các sản phẩm cùng loại khác về giá hoặc về các giá trị khác của sản phẩm cho khách hàng.
Từ đó giúp thu hút khách hàng đến với sản phẩm, nâng cao khả năng phát triển của sản phẩm và duy trì vị trí của sản phẩm trên thị trường, đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp cung cấp sản phẩm. Ngoài ra, với thực trạng hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra mạnh mẽ còn làm nảy sinh khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu. Kế thừa từ khái niệm năng lực cạnh tranh sản phẩm, ta có thể đưa ra khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu là sự vượt trội của các sản phẩm được xuất khẩu, về cả định tính gồm: chất lượng, kiểu dáng, thương hiệu, sự khác biệt, … và định lượng gồm: giá bán, sản lượng, doanh thu, lợi nhuận,… so với các sản phẩm cùng loại ở một thị trường nước ngoài trong cùng một thời điểm. Là khả năng phát triển và duy trì vị trí, chiếm lĩnh thị trường, đồng thời đem lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp cung cấp.
11 ❖ Các lực lượng cạnh tranh Theo M.