CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng 1. Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng Hành vi người tiêu dùng được định nghĩa là những hành vi cụ thể của một người khi thực hiện các quyết định mua sắm, sử dụng và ngưng sử dụng sản phẩm hay dịch vụ nào đó (Kotler, 1999). Hay còn có thể được hiểu là những phản ứng có thể xảy ra của người tiêu dùng trong quá trình lựa chọn, ra quyết định mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Am hiểu hành vi người tiêu dùng sẽ giúp cho doanh nghiệp cung cấp đúng sản phẩm, dịch vụ mà người tiêu dùng cần và xây dựng chiến lượng Marketing đúng đắn. Việc nghiên cứu hành vi người tiêu dùng sẽ giúp doanh nghiệp hiểu được mục đích, nhu cầu, thói quen, sở thích… cuả người tiêu dùng, biết được tại sao họ mua sản phẩm, dịch vụ đó, thương hiệu đó, vì sao họ không sử dụng nữa. Hay có thể biết được khi nào mua, mua hàng ở đâu và tần suất mua hàng như thế nào để có thể lên chiến lược, kế hoạch thúc đẩy quá trình mua sắm của người tiêu dùng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, duy trì khách hàng cũ và ngăn chặn việc chuyển đổi sản phẩm, dịch vụ sang doanh nghiệp, thương hiệu khác. Mô hình hành vi người tiêu dùng Nguồn: Philip Kotler (2004) Theo mô hình hành vi người tiêu dùng của Philip Kotler (2004), những yếu tố kích thích của marketing sau khi qua hộp đen của người mua sẽ tạo ra những phản ứng cụ thể như lựa chọn sản phẩm dịch vụ, thương hiệu, nơi mua, lúc mua hay số lượng mua… 7 1.
Hành vi người tiêu dùng trong ngành ngân hàng. Hành vi người tiêu dùng trong ngân hàng có thể được hiểu là hành vi của khách hàng khi thực hiện việc tìm kiếm mua, sử dụng, đánh giá hay từ bỏ các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Hành vi người tiêu dùng trong ngành ngân hàng thể hiện khách hàng muốn lựa chọn sản phẩm, dịch vụ; việc khách hàng sử dụng lại sản phẩm, dịch vụ đó và mức độ thường xuyên trong việc mua, sử dụng sản phẩm dịch vụ, và có thái độ, đánh giá về sản phẩm dịch vụ trước – trong – sau khi sử dụng. Trong lĩnh vực ngân hàng, người tiêu dùng là các khách hàng của ngân hàng, là người sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của họ.
Khách hàng của ngân hàng có thể là khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp lớn, vừa và nhỏ hay các tổ chức, hộ gia đình… Theo Nguyễn Thị An Bình (2016), người tiêu dùng trong lĩnh vực bán lẻ tại các ngân hàng TMCP tại Việt Nam có một số đặc trưng sau: - Số lượng khách hàng lớn và nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng ngày càng tăng. - Nhu cầu về sản phẩm dịch vụ ngân hàng phong phú và đa dạng. - Liên tục thay đổi về thị hiếu trong tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ mới do tác động của môi trường, xu thế và điều kiện kinh tế - xã hội. Nghiên cứu hành vi của người tiêu dùng giúp các ngân hàng hiểu rõ hơn nhu cầu của khách hàng trong việc quyết định sử dụng sản phẩm, dịch và và hiểu được các quyết định sau khi sử dụng của họ để có có các chính sách phù hợp nhằm xây dụng lòng trung thành của khách hàng trong thời đại kết nối.
Lòng trung thành của khách hàng 1. Khái niệm về lòng trung thành. Mặc dù có rất nhiều định nghĩa về lòng trung thành nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa này. Các nhà nghiên cứu định nghĩa lòng trung thành theo ba cách khác nhau: theo hành vi thông qua việc “mua hàng lặp lại” và bỏ qua các yếu tố tiềm ẩn khác (Nodman, 2004); theo thái độ như ý định mua, đề nghị 8 đối với người khác hoặc nói thuận lợi về sản phẩm hoặc dịch vụ (Oliver, 1999); và cuối cùng là kết hợp cả hành vi và thái độ (Jacoby and Chesnut, 1978).
Cụ thể, theo Oliver (1999), lòng trung thành xuất phát từ trải nghiệm của khách hàng. Oliver mô tả tiến trình từ khi khách hàng nhận thức về thương hiệu cho đến khi khách hàng trải nghiệm và có những tình cảm dành cho thương hiệu đó với lòng trung thành, ý định hành vi dễ dàng được chuyển sang sẵn sàng hành động. Theo Caruana (2002), khách hàng trung thành có thể hiểu là khách hàng thực hiện hành vi mua từ một thương hiệu lặp đi lặp lại nhiều lần, có thái độ tích cực đối với thương hiệu đó mà chỉ nghĩ đến thương hiệu đó đầu tiên nếu có phát sinh nhu cầu. Theo Caruana (2002), khách hàng trung thành có thể hiểu là khách hàng có hành vi mua lặp đi lặp lại và có thái độ tích cực với nhà cung cấp đó, chỉ nghĩ tới nhà cung cấp đó khi có phát sinh nhu cầu.
Cũng bằng sự kết hợp giữa lòng trung thành thái độ và hành vi, Philip Kotler và cộng sự (2016) cho rằng: Lòng trung thành là sự sẵn lòng ủng hộ thương hiệu thay vì hành động tiếp tục mua hàng vì một người có thể vì một lý do nào đó không thể tiếp tục mua hàng nhưng vẫn giới thiệu cho người thân, bạn bè của mình mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó. Theo Kathleen Khirallah (2005) cho rằng, đối với ngành ngân hàng, lòng trung thành của khách hàng thể hiện khi khách hàng được lựa chọn giao dịch với một ngân hàng, họ sẽ tiếp tục giao dịch và giới thiệu người khác sử dụng các dịch cụ của ngân hàng đó. Họ lựa chọn ngân hàng đó đầu tiên dù biết có lựa chọn tốt hơn tương đối ở một ngân hàng khác, có thể là về giá hoặc tiện ích. Lòng trung thành của khách hàng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng khi mà họ tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng và giới thiệu nhiều khách hàng tiềm năng khác đến giao dịch với ngân hàng, củng cố niềm tin với khách hàng hiện tại để trở thành khách hàng trung thành.
Nếu khách hàng không hài lòng với ngân hàng hiện tại, họ có thể rời bỏ và chuyển sang sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng khác. Trong bài nghiên cứu này, tác giả nghiên cứu về lòng trung thành trong ngành ngân hàng với sự kết hợp của hành vi và thái độ theo khái niệm của Kotler và cộng 9 sự (2016). Theo đó, lòng trung thành là sự sẵn lòng ủng hộ ngân hàng, việc tiếp tục sử dụng sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đó và sẵn sàng giới thiệu cho người thân, bạn bè của mình mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Các nhân tố tác động đến lòng trung thành.
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Có những yếu tố giúp gia tăng lòng trung thành, nhưng cũng có những yếu tố lại làm giảm lòng trung thành của khách hàng, tăng hành vi chuyển đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau trong nghiên cứu về dịch vụ của Parasuraman và cộng sự (1988). Chất lượng dịch vụ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng cũng đã được chứng minh trong các nghiên cứu của Anderson và Sullivan (1993), Zeithaml et al.
Có thể thấy các nghiên cứu đều chỉ ra chất lượng dịch vụ dẫn đến đến sự hài lòng. Auka (2012) chứng minh rằng tất cả các thuộc tính của chất lượng dịch vụ tác động tích cực làm tăng sự hài lòng của khách hàng và sự hài lòng của khách hàng cũng tác động tích cực và làm tăng lòng trung thành của khách hàng trong lĩnh vực bán lẻ của các ngân hàng. Theo Fornell (1992), Aydin & Ozer (2005), Burham & cộng sự (2003), Lam & Burton (2006), chi phí chuyển đổi (rào cản chuyển đổi) giúp khách hàng lặp lại hành vi mua sắm, ngăn khách hàng bị thu hút bởi các nhãn hàng cạnh tranh hoặc có hành vi chuyển đổi và giúp duy trì sự trung thành của các khách hàng. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mai Trang (2016) về chất lượng dịch vụ, sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng đối với hệ thống siêu thị của thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: chất lượng dịch vụ siêu thị (chất lượng hàng hóa, nhân viên phục vụ, trưng bày siêu thị, mặt bằng siêu thị, an toàn siêu thị) là nhân tố quan trọng tác động đến sự thỏa mãn và lòng trung thành của khách hàng.
Dựa trên mô hình Bankserv (1999) kết hợp với các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới như Mesay Sata Shanka (2012), Fredy-Roberto Valenzuela (2012), 10 Melaku Yilma (2013) và các công trình nghiên cứu ở Việt Nam như Đỗ Tiến Hoà (2007), Hoàng Xuân Bích Loan (2008), Nguyễn Thị Kim Anh (2010), Trần Hữu Ái (2012), các tác giả Lưu Tiến Dũng, Trần Thị Bích Ngọc và Đinh Thị Hòa đưa ra kết quả kiểm định các thang đo và mô hình nghiên cứu trong nghiên cứu này cho thấy chất lượng dịch vụ ngành ngân hàng bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: Nhân viên, tiện ích, tin cậy, thông tin, dịch vụ quầy. Và lòng trung thành của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng bị ảnh hưởng bởi các nhân tố như: sự hài lòng, chất lượng dịch vụ và rào cản chuyển đổi. Cụ thể: Hình 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng với DVNH Nguồn: Lưu Tiến Dũng, Trần Thị Bích Ngọc và Đinh Thị Hòa (2014) Trong đó, các biến khái niệm trong mô hình nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert 5 điểm với 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý).
Bộ thang đo kế thừa bộ thang đo của mô hình Bankserv kết hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả khác và được trình bày và mã hóa như trong Bảng 1: Bảng 1.1: Thang đo của các khái niệm trong mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng với dịch vụ ngân hàng Nhãn biến Cơ sở đề xuất biến Nhân viên Nhân viên luôn sẵn sàng giúp đỡ Anh/Chị. Avkiran (1999), Đỗ Nhân viên phục vụ Anh/Chị một cách tận tình. Tiến Hòa (2007), 11 Huỳnh Thị Thịnh Nhân viên luôn chào hỏi khi tới lượt Anh/Chị được phục vụ. (2013), Melaku Yilma Nhân viên thể hiện mối quan tâm thực sự khi có một sai lầm trong tài khoản (2013) của Anh/Chị.
Nhân viên có thái độ lịch sự. Đồng phục của nhân viên gọn gàng, sạch sẽ. Nhân viên sẵn sàng xin lỗi cho bất kì sai sót nào. Tiện ích Ngân hàng có địa điểm giao dịch thuận tiện.