CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG THUYẾT TRÌNH 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm thuyết trình Thuyết trình là một hình thức giao tiếp, hiểu theo nghĩa chung nhất là quá trình truyền đạt thông tin nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể như: hiểu nội dung chuyển tải, tạo dựng quan hệ, thuyết phục người nghe.
Theo tác giả Comfort (1995), thuyết trình là hoạt động được áp dụng nhiều khi sinh viên thuyết trình một chủ đề họ lựa chọn hay được giáo viên giao.Huntley (2007): Thuyết trình là một bài nói ngắn của một người hoặc nhóm người trước một nhóm người nghe về một chủ đề cụ thể nào đó. Tác giả Gufta (2008)định nghĩa thuyết trình là cách truyền tải thông điệp tới người nghe. Những bài nói như trên thường được thiết kế theo chủ đề, và được chuẩn bị trước, giống như một bài viết hơn. Thuyết trình được xác định là hoạt động nói, diễn đạt một cách có lôgic để thu hút và thuyết phục cả người nói lẫn người nghe.
Cuốn sách “Kỹ năng thuyết trình” (2013) của PGS.TS Dương Thị Liễu (Đại học Kinh tế Quốc dân) định nghĩa như sau: Thuyết trình là trình bày bằng lời trước nhiều người về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người khác. Theo Huỳnh Văn Sơn (2012), kỹ năng cần thiết trong quá trình thuyết trình là kỹ năng giao tiếp; kỹ năng tổ chức: một rõ cấu trúc của một bài thuyết trình để tổ chức sắp xếp một bài thuyết trình logic, rõ ràng và mang tính thuyết phục cao, tư duy phản biện, khả năng thiết kế và sử dụng những dụng cụ trực quan hỗ trợ cho bài thuyết trình, khả năng sử dụng ngôn ngữ hình thể trong thuyết trình. Khái niệm về thuyết trình theo giáo trình “Kỹ năng thuyết trình” của PSG.TS Dương Thị Liễu. “Thuyết trình là trình bày bằng lời trước nhiều người nghe về một vấn đề nào đó nhằm cung cấp thông tin hoặc thuyết phục, gây ảnh hưởng đến người nghe”.
Khái niệm kỹ năng thuyết trình 1 1. Khái niệm kỹ năng Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kỹ năng. Nhưng định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của từng người. Tuy nhiên hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn.
Kỹ năng học được từ quá trình lặp đi lặp lại một hay một số hoạt động nhất định nào đó. Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng. Như vậy ta có thể hiểu “Kỹ năng là năng lực của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi. Kỹ năng thuyết trình Thuyết trình là một trong những kĩ năng rất cần thiết để đem lại sự thành công cho mỗi người trong công việc học tập, nghiên cứu cũng như các hoạt động, giao tiếp xã hội.
“Kỹ năng thuyết trình gây được sự chú ý trong giáo dục đại học và kinh doanh, vì nó chính là một trong các năng lực cốt lõi của một chuyên gia”. Thuyết trình cần có sự kết hợp việc đọc, viết và trình bày một cách khoa học. Kỹ năng thuyết trình là sự kết hợp của kỹ năng ngôn ngữ, kỹ năng lập luận và kỹ năng trình bày. Do đó, qua việc rèn luyện kỹ năng này sinh viên sẽ có khả năng tư duy logic, lập luận chặt chẽ, tổng hợp, khái quát vấn đề và sáng tạo.
Rèn cho sinh viên có khả năng nói lưu loát, thuyết phục và tự tin. “Kỹ năng thuyết trình là khả năng sử dụng kết hợp kiến thức, thái độ, phương pháp, công cụ cần thiết vào quá trình truyền đạt và dẫn dắt thông tin nhằm làm cho nội dung thông tin có sức hấp dẫn hơn thu hút được nhiều người lắng nghe hơn. Kỹ năng thuyết trình là sự kết hợp giữa nội dung và hình thức, giữa giao tiếp ngôn ngữ và giao tiếp hình thể, không chỉ truyền đạt thông tin đến đám đông bằng lời nói mà còn truyền đến các giác quan còn lại gồm thị giác, khứu giác và xúc giác. Vai trò của kỹ năng thuyết trình đối với sinh viên khoa Lưu trữ học và Quản trị văn phòng 1.
Trong học tập 2 Quá trình học tập trên giảng đường Đại học là hoàn toàn khác xa so với khi học tại trung học vì vậy thuyết trình là yêu cầu bắt buộc đối với sinh viên trong các môn học mà giảng viên áp dụng phương pháp thuyết trình, làm việc nhóm. Thực hiện, rèn luyện kỹ năng thuyết trình cũng là cơ hội giúp sinh viên tự tin hơn khi trình bày trước đám đông, đây cũng là một trong những hành trang cho con đường sau này khi ra trường tham gia vào thị trường lao động của sinh viên. Khi sinh viên hiểu rõ về KNTT sẽ giúp sinh viên khắc phục được một số hạn chế như: − Sự e dè, ngại ngùng và nội tâm được coi là biểu hiện phổ biến xuất hiện ở sinh viên nếu bản thân sinh viên biết cách sử dụng hiệu quả KNTT điều này sẽ giúp SV mạnh dạn tích cực và chủ động hơn trong quá trình học tập và rèn luyện. − Phạm vi các mối quan hệ còn nhỏ hẹp vì vậy việc mở rộng và kết nối thêm các mối quan hệ tại môi trường đại học sẽ giúp sinh viên cởi mở và năng động hơn bằng cách sinh viên nhiệt tình tham gia các hoạt động tại trường, như vậy sẽ có nhiều cơ hội giao tiếp nâng cao sự tự tin và chủ động mở rộng các mối quan hệ.
− Cách trình bày- diễn đạt còn hạn chế, tuy nhiên khi biết cách vận dụng KNTT hiệu quả sinh viên sẽ biết diễn đạt một cách dễ hiểu, đúng trọng tâm những điều mình cần nói không lúng túng hay căng thẳng khi trình bày ý kiến của bản thân hoặc dẫn dắt một buổi nói chuyện. − Hạn chế về khả năng tự quảng cáo bản thân một cách hiệu quả, nhờ việc nắm chắc KNTT sẽ giúp bạn nổi bật được tính cách và sự hiểu biết vấn đề trong quá trình thuyết trình điều này sẽ giúp sinh viên có thêm nhiều cơ hội trở thành ứng viên tiềm năng cho công ty doanh nghiệp nào đó trong tương lai. − Hạn chế về kiến thức xã hội, chủ động tìm kiếm thông tin từ các lĩnh vực của đời sống kinh tế- xã hội để làm phong phú hơn tầm hiểu biết cũng như phong phú hơn nội dung trình bày đem đến cho khán thính giả. Ngoài ra, theo chương trình đào tạo hiện hành cho khoa Lưu trữ học và Quản trị Văn phòng thì dung lượng kiến thức chỉ chiếm 40% còn lại 60% là các môn đại cương hoặc các môn của ngành khác.
Trong công việc, cuộc sống Làm tốt KNTT sẽ mang lại rất nhiều lợi ích cho sinh viên: 3 − Sự tự tin sẽ là một trong những chìa khóa quan trọng giúp sinh viên tới gần hơn với những thành công, tự tin trình bày ý kiến của bản thân, tự tin thuyết phục nhà tuyển dụng tự tin diễn đạt các vấn đề trong quá trình học tập hoặc trình bày ý tưởng của bản thân. − Trình bày được tâm tư, tình cảm, nguyện vọng hay những thắc mắc đối với các vấn đề trong những buổi hội họp. Có KNTT sẽ giúp người trình bày diễn đạt ý tưởng của bản thân một cách logic và trong các buổi hội, họp sẽ đưa ra những câu hỏi đúng trọng tâm, ngắn gọn, khoa học và xúc tích. − Tạo ra các mối quan hệ xã hội chất lượng, việc tham gia các hội, nhóm, đoàn thể, ngoài việc rèn luyện KNTT mà còn là nơi ta vận dụng KNTT một cách khéo léo để kết giao những người bạn mới, những mối quan hệ lành mạnh hữu iisch cùng lý tưởng.
Có thể thấy trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội, việc thực hiện kỹ năng thuyết trình tốt sẽ tạo ra vị thế cao, nhận được sự kính nể từ người khác. Trong lĩnh vực chính trị- xã hội những nhà thuyết trình tài ba họ đều là những người lãnh đạo của quốc gia, dân tộc: Fidel Castro, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bẩck Obama. Trong lĩnh vực giáo dục: Một giáo viên không tự tin nói trước đám đông (trước lớp- trước học sinh) thì không thể giúp cho tiết học cuốn hút, học sinh hiểu bài. Trong lĩnh vực kinh tế: một nhà quản lý, một người giám đốc giỏi họ không chỉ có tầm nhìn chiến lược, ý tưởng kinh doanh, mà còn phải là người có khả năng thuyết trình, mà thuyết trình phải thuyết phục.
Bởi nhà quản trị giỏi là nhà quản trị giúp cho nhân viên của mình hiểu và làm theo những chiến lược, định hướng mà nhà quản trị đề ra. Nguyên tắc thuyết trình 1. Đảm bảo nội dung thuyết trình − Nội dung trình bày cần bám sát chủ đề (không lạc đề), lựa chọn những tài liệu tốt nhất, có những nội dung phù hợp nhất, điểm nhấn quan trọng nhất cho bài thuyết trình, cần đặc biệt lưu ý những điểm nhấn quan trọng. − Nội dung chính: Mở bài, thân bài, kết bài đảm bảo tính nhất quán cho chủ đề.
4 − Những điểm nhấn quan trọng, lưu ý: thể hiện bằng sơ đồ, hình ảnh, bảng biểu, âm thanh, video clip, bôi màu khác, font chữ khác hoặc lớn hơn, khoanh tròn, hoặc các công cụ hỗ trợ khác (bảng phấn, giấy màu, thẻ màu, vật thật, …). Hiểu rõ đối tượng người nghe Nên có sự tìm hiểu rõ ràng người nghe bạn là ai, họ cần gì và điều gì tác động làm cho họ thay đổi. Khi một khán thính giả đón nhận thông điệp thuyết trình thì họ đón nhận người thuyết trình trước khi họ đón nhận thông điệp, nói đơn giản là khi người nghe có sự tin cậy vào bạn thì họ sẽ tin cậy vào những gì bạn trình bày, ngược lại, họ sẽ dễ dàng thiếu đồng tình hoặc tự tạo ra mâu thuẫn với thông tin của bạn. Vì vậy cần: − Xác định thông tin về đối tượng nghe: Độ tuổi, giới tính, trình độ… − Xác định mức độ am hiểu của đối tượng nghe về nội dung sẽ thuyết trình − Xác định mục đích: Đối tượng nghe muốn nhận được gì khi đến với buổi thuyết trình.
− Tôn trọng đối tượng nghe.