CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1. Sơ lược tình hình nghiên cứu Trong những năm qua, vấn đề về kỹ năng thuyết trình được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm và đã được trình bày qua nhiều tài liệu khác nhau như sách, đề tài nghiên cứu, bài viết đăng trên các bài báo/ tạp chí, các bài tham luận. Sau đây là một số tài liệu tham khảo của nhóm nghiên cứu: Tác phẩm “Học sinh với kỹ năng thuyết trình và diễn đạt ý tưởng” (2003) của tác giả Tôn Thất Sam đã nêu bật lên vẫn đề phải trang bị kỹ năng cho các em học sinh từ nhỏ. Trên cơ sơ đó, tác giả đã đưa các cách luyện tập giúp học sinh diễn đạt ý tưởng của mình một cách ngắn gọn và trôi chảy “kỹ năng phát biểu” để trở thành "nghệ thuật nói trước công chúng", có thể truyền đạt một cách hoàn hảo các ý tưởng của mình đến người nghe, cuốn hút được số đông thính giả.
Ngoài ra, trong tác phẩm “Kỹ năng thuyết trình” (2006), tác giả Tim Hindle đã nêu ra những phương pháp luyện tập hữu ích để thuyết trình thành công, thông qua những hướng dẫn chi tiết trong từng công đoạn, như lập kế hoạch, lựa chọn các hình thức hỗ trợ về hình ảnh - âm thanh, xử lý những câu hỏi từ cử toạ. Ngoài ra, cuốn sách còn đưa ra những bài tập để giúp người đọc tự kiểm tra và đánh giá sự tiến bộ của bản thân qua mỗi lần thuyết trình. Bên cạnh đó, tác phẩm “Tủ sách kỹ năng- kỹ năng thuyết trình” (2012) do Alpha Books biên soạn đã cung cấp đầy đủ những bước cần thiết cần chuẩn bị cho một buổi thuyết trình hoàn hảo, từ nắm vững nội dung đề tài, chuẩn bị tâm lý vững vàng cho đến những yếu tố quan trọng khác như phi ngôn từ, sử dụng các công cụ trực quan để bài thuyết trình hay và sinh động hơn. Ngoài ra, tác phẩm còn đưa ra những bài tập đơn giản, dễ áp dụng, những ví dụ minh họa cụ thể, sinh động, những kinh nghiệm thiết thực để giúp bạn đọc rèn luyện, trau dồi và nâng cao kỹ 10 năng thuyết trình, tự tin phát biểu ý kiến, bày tỏ quan điểm của mình, thể hiện và khẳng định bản thân.
Về đề tài nghiên cứu, phải kể đến tác giả Tô Thị Kim Thoa với đề tài “Thực trạng về khả năng thuyết trình của sinh viên sư phạm Ngữ văn” (2010). Tác giả đã đánh giá về thực trạng khả năng thuyết trình của sinh viên chuyên ngành sư phạm Ngữ Văn; Từ đó, lý giải, phân tích và rút ra kết luận về thực trạng khả năng thuyết trình của sinh viên sư phạm Ngữ Văn trong mối liên hệ với những yếu tố giúp hình thành kỹ năng thuyết trình trong nhà trường phổ thông và các yếu tố khác. Cuối cùng, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thuyết trình cho sinh viên sư phạm nói chung và sinh viên sư phạm Ngữ Văn nói riêng. Đi sâu vào việc nghiên cứu kỹ năng thuyết trình tại một trường có thể kể đến đề tài “ Kỹ năng thuyết trình” (Tài liệu phục vụ chuyên đề rèn luyện kỹ năng sống cho sinh viên thiệt thòi trường Đại học An Giang) (2007) của tác giả Hồ Thanh Mỹ Phương đã đề cập đến các biện pháp tự đánh giá kỹ năng thuyết trình, trên cơ sở đó đề xuất các bước để có một buổi thuyết trình thành công.
Bài báo cáo chuyên đề “Rèn luyện kỹ năng sống qua phương pháp dạy học và qua giờ học bộ môn” (2011) của tác giả Nguyễn Thị Lan đã nêu lên những thực trạng về vấn đề đào tạo 10 kỹ năng cần thiết (trong đó có đề cập đến kỹ năng thuyết trình) cho học sinh nói chung và học sinh tại trường THPT Lý Thường Kiệt nói riêng. Từ đó, nêu lên những thuận lợi, khó khăn trong việc đào tạo kỹ năng. Ngoài ra, bài báo cáo còn trình bày rõ về những hiệu quả trong việc lồng ghép các kỹ năng sống vào giảng dạy môn học và đưa ra những kiến nghị trong việc đào tạo kỹ năng sống cho học sinh. Trong bài viết “Những điểm yếu của sinh viên khi thuyết trình và cách khắc phục” (2011) của Đoàn thanh niên- Hội sinh viên khoa Đô thị học- trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cập đến buổi trò chuyện giữa sinh viên và Giáo sư Loek Hopstaken.
Thông qua cuộc trò chuyện này, Giáo sư đã chia sẻ những kinh nghiệm và lời khuyên đến các bạn sinh viên để giúp các bạn có kỹ năng thuyết trình hiệu quả hơn. 11 Ngoài ra, bài viết “Top 10 kỹ năng “mềm” để sống học tập và làm việc hiệu quả” (2009) của tác giả Phan Quốc Việt đã đề cập đến sự quan tâm đặc biệt đến các kỹ năng cơ bản trong “kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng” của các nước như Mĩ, Anh, Canada, Úc,… Trong đó, tác giả đề cập đến bảng liệt kê các kỹ năng cơ bản để tạo nên sự thành công của các nước kể trên. Kỹ năng thuyết trình cũng nằm trong số các kỹ năng cơ bản ấy. Ngoài ra, tác giả đã đi sâu làm rõ vấn đề về tầm quan trọng của việc đào tạo lao động giàu kỹ năng tại Việt Nam.
Từ đó, đề xuất ra ý kiến để xây dựng một nước Việt Nam giàu năng lực cạnh tranh từ việc đào tạo kỹ năng mềm. Bên cạnh đó, trong bài viết “Phát triển kỹ năng sống cho tuổi lên 3” (2011) trên Báo điện tử Dân trí cũng đã nêu lên tầm quan trọng trong viêc hình thành kỹ năng sống cho trẻ .Trong đó, việc xây dựng kỹ năng giao tiếp và thuyết trình chính là phương thức để tạo điều kiện cho trẻ giao lưu, bày tỏ nguyện vọng và nói lên ý kiến của mình. Tóm lại, rèn luyện kỹ năng thuyết trình là đề tài nhận được rất nhiều sự quan tâm trong thời đại hiện nay- thời đại “kỷ nguyên của kinh tế dựa vào kỹ năng”. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu, sách, báo, tạp chí,… đã trình bày được khá nhiều các cơ sở lí luận về kỹ năng thuyết trình cũng như các biện pháp để thuyết trình hiệu quả.
Tuy nhiên, các đề tài này phần lớn, đều chọn đối tượng tác động là sinh viên hay những nhà kinh doanh,… trong khi đó, việc hình thành kỹ năng thuyết trình cho học sinh phổ thông lại đóng một vai trò vô cùng quan trọng, tạo điều kiện để các em tiếp cận dễ dàng với những cách học mới và trang bị cho các em kỹ năng cần thiết trong tương lai. Do vậy, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của tác giả trong và ngoài nước, chúng tôi nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải pháp nhằm rèn luyện, nâng cao kỹ năng thuyết trình cho học sinh Trường trung học phổ thông Lý Thường Kiệt, tỉnh Bình Thuận”. Kỹ năng thuyết trình: 1. Khái niệm về kỹ năng: Kỹ năng là một khái niệm rất phức tạp.
Vì vậy, cho đến nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng. Có rất nhiều tác giả đã đưa ra những quan niệm khác nhau về kỹ năng với những cách nhìn khác nhau: Quan niệm thứ nhất: xem kỹ năng như là một thuật thao tác: V.Kruchetxki cho rằng: “Kỹ năng là thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó nhờ những kỹ thuật, những phương thức đúng đắn”1.Covaliop trong cuốn “Tâm lý học cá nhân” thì cho rằng: “kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động” 2. Tác giả Trần Trọng Thủy quan niệm rằng: “kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động nghĩa là có kỹ thuật hành động, có kỹ năng”3. Quan niệm thứ hai: xem kỹ năng như là một năng lực của con người A.Petrovxki đã quan niệm rằng: kỹ năng là sự vận dụng những tri thức, kỹ xảo đã có để lựa chọn thực hiện những phương thức hành động tương ứng với mục đích đề ra.
Tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard (1995) cho rằng: “Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức, các phương pháp kỹ thuật và thiết bị cần thiết cho việc thực hiện các nhiệm vụ nhất định có được từ kinh nghiệm giáo dục và đào tạo” 4.A (1981), Những cơ sở của tâm lý học sư phạm tập 1, NXB Giáo dục.G (1976), Tâm lý học cá nhân, NXB Sư phạm. Trang 11 3 Trần Trọng Thủy (1998), Tâm lý học lao động, NXB Đại học quốc gia Hà Nội. Trang 9 4 Paul Hersey, Ken Blanc Hard (1995), Quản lý nguồn nhân lực, NXB chính Trị Quốc gia. Trang 15 13 Đồng với những quan điểm trên, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết cũng quan niệm kỹ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả.
Trong “Từ điển Tâm lý học” do Vũ Dũng chủ biên thì: “Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng” 5.TS Lưu Xuân Mới (Học viện quản lý Giáo dục) đã có cách nhìn nhận rất mới mẻ về khái niệm kỹ năng : kỹ năng là sự biểu hiện kết quả hành động trên cơ sở kiến thức đã có. Kỹ năng là tri thức trong hành động. Trong “Từ điển Tiếng Việt” do Nhà xuất bản Khoa học xã hội biên soạn thì: “Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn”. Hai quan điểm nêu trên về hình thức diễn đạt tuy có vẻ khác nhau nhưng về thực chất thì chúng không hề mâu thuẫn nhau.
Dù nói theo quan điểm nào thì hầu hết các tác giả đều xác định: Mọi kỹ năng đều phải dựa trên cơ sở của tri thức: muốn làm việc gì thì trước hết cần có kiến thức về nó Kỹ năng liên quan mật thiết đến năng lực của con người, nó được xem là biểu hiện cụ thể của năng lực Nói đến kỹ năng của con người nghĩa là nói tới hành động có mục đích. Với cả hai quan niệm này chúng ta thấy rằng: Nếu có kỹ năng thì con người sẽ làm việc một cách hiệu quả hơn. Kỹ năng sẽ giúp con người thực hiện có thứ tự, có kế hoạch mọi công việc và tổ chức quá trình làm việc một cách có thứ tự và hiệu quả.