Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài “Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu Tư – Thương Mại Minh Hòa”. Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng khả năng cạnh tranh của công ty TNHH Đầu Tư – Thương Mại Minh Hòa. Chương 4: Các kết luận và đề xuất nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty TNHH Đầu Tư – Thương Mại Minh Hòa.
Luận văn tốt nghiệp 3 Trường Đại Học Thương Mại Luan van Nguyễn Thị Huế - K5HQ1C Khoa: Quản Trị Doanh Nghiệp Chương 2: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp thương mại. Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về cạnh tranh. Thuật ngữ “Cạnh tranh” được sử dụng rất phổ biến hiện nay trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao, thường xuyên được nhắc tới trong sách báo chuyên môn, diễn đàn kinh tế cũng như các phương tiện thông tin đại chúng và được sự quan tâm của nhiều đối tượng, từ nhiều góc độ khác nhau, dẫn đến có rất nhiều khái niệm khác nhau về “cạnh tranh”, cụ thể như sau: Tiếp cận ở góc độ đơn giản, mang tính tổng quát thì cạnh tranh là hành động ganh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay các nhóm, các loài vì mục đích giành được sự tồn tại, sống còn, giành được lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, các phần thưởng hay những thứ khác.
Trong kinh tế chính trị học thì cạnh tranh là sự ganh đua về kinh tế giữa những chủ thể trong nền sản xuất hàng hóa nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu thụ hoặc tiêu dùng hàng hóa để từ đó thu được nhiều lợi ích nhất cho mình. Theo Michael Porter thì: Cạnh tranh là giành lấy thị phần. Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980).
Có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh, song có thể hiểu một cách chung nhất về cạnh tranh như sau: cạnh tranh là quan hệ kinh tế mà ở đó các doanh nghiệp ganh đua nhau tìm mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật lẫn thủ đoạn để đạt được mục tiêu kinh tế của mình, thông thường là chiếm lĩnh thị trường, giành lấy khách hàng cũng như điều kiện sản xuất, thị trường có lợi nhất. Khái niệm về khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Đã có rất nhiều quan điểm khác nhau về KNCT của doanh nghiệp. Trong từng điều kiện, bối cảnh và trình độ phát triển mà có những quan niệm khác nhau.
Luận văn tốt nghiệp 4 Trường Đại Học Thương Mại Luan van Nguyễn Thị Huế - K5HQ1C Khoa: Quản Trị Doanh Nghiệp KNCT là khả năng tồn tại trong kinh doanh và đạt được một số kết quả mong muốn dưới dạng lợi nhuận, giá cả, lợi tức hoặc chất lượng các sản phẩm cũng như năng lực của nó để khai thác các cơ hội thị trường hiện nay và làm nẩy sinh thị trường mới. KNCT của doanh nghiệp thể hiện thực lực và lợi thế của doanh nghiệp so với đối thủ cạnh tranh trong việc thỏa mãn tốt nhất các đòi hỏi cảu khách hàng để thu lợi nhuận ngày càng cao. Theo Michael Porter: KNCT đồng nghĩa với năng suất lao động, năng suất lao động là thước đo duy nhất về khả năng cạnh tranh. Theo tác giả Vũ Trọng Lâm: KNCT của doanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì sử dụng và sáng tạo mới các lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.
Như vậy: “ KNCT của doanh nghiệp là năng lực về mọi hoạt động của sản xuất kinh doanh của DN nhằm tạo ra những sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ chất lượng cao với chi phí thấp, được thị trường chấp nhận. Nhờ đó DN có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trên thị trường, đảm bảo việc thu lợi nhuận và thực hiện được những mục tiêu mà DN đã đề ra”. Một số lý thuyết của khả năng cạnh tranh. Quan điểm về cạnh tranh.
Theo Karl Marx: “ Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa các nha tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất tiêu thụ hàng hóa để thu lợi nhuận siêu ngạch”. Theo các học giả trường phái tư sản cổ điển: “ Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng, quá trình này tạo cho mỗi thành viên trong thị trường một dư địa hoạt động nhất định và mang lại cho mỗi thành viên một phần xứng đáng so với khả năng của mình”. Sự cạnh tranh làm cho các thành viên trong thị trường có những hoạt động vươn lên khẳng định mình để từ đó thu được kết quả với công sức mà họ đã bỏ ra. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế( OECD) cho rằng : “Tính cạnh tranh là khả năng của các DN, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập Luận văn tốt nghiệp 5 Trường Đại Học Thương Mại Luan van Nguyễn Thị Huế - K5HQ1C Khoa: Quản Trị Doanh Nghiệp cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”.
Chính vì điều này mà chúng ta thấy một số nước trong khu vực đang đầu tư xây dựng các cơ sở sản xuất kinh doanh tại các nước đang phát triển với mục đích thu được lợi nhuận cao nhất vì họ có được nguồn nhân lực, giá nhân và nguyên vật liệu rẻ. Quan điểm về khả năng cạnh tranh. Theo quan điểm quản trị chiến lược của Michael Porter thì KNCT của các hãng được quyết định bởi sức mạnh của các lực lượng cạnh tranh trong ngành, các lực lượng này bao gồm các đối thủ cạnh tranh tiềm năng, các sản phẩm thay thế, người cung ứng, khách hàng và đối thủ cạnh tranh hiện tại trong ngành”. Các DN cần phải nâng cao KNCT của mình để có thể thắng được sức ép từ các đối thủ cạnh tranh, lấy được uy tín, lòng tin của khách hàng và nhà cung cấp.
DN cần phải nghiên cứu các vấn đề trên, không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm cũng như các dịch vụ đi kèm…tạo được thế đứng riêng cho mình. Theo quan điểm tân cổ điển thì: “KNCT của một sản phẩm là quan điểm dựa trên lý thuyết thương mại truyền thống qua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất”. Như vậy, KNCT của một ngành, công ty được đành giá cao hay thấp tùy thuộc vào chi phí sản xuất, đây là điều kiện cơ bản để xây dựng lợi thế cạnh tranh. Theo quan điểm tổng hợp của VarDwer, E.Westgren thì: “KNCT của một ngành, một công ty được thể hiện ở việc tạo ra và duy trì thị phần, lợi nhuận trên các thị trường trong và ngoài nước”.
Như vậy nếu DN nào có mức lợi nhuận cao và mức thị phần lớn trên thị trường nghĩa là có KNCT cao 2. Tổng quan tình hình khách thể nghiên cứu của những công trình năm trước. Luận văn: “ Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Thương Mại và xây dựng Thái Phương trên thị trường” của Hà Ngọc Đoàn – Trường Đại Học Thương Mại, thực hiện năm 2006. Đề tài này đã đưa ra được thực trạng khả năng cạnh tranh của Công ty, nhưng chưa đưa ra được giải pháp mang tính định hướng rõ.
Luận văn: “ Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu Tư phát triển thương mại Trường Thịnh” của Vũ Thị Minh Ngọc, thực hiện năm 2010. Đề tài đã chỉ Luận văn tốt nghiệp 6 Trường Đại Học Thương Mại Luan van Nguyễn Thị Huế - K5HQ1C Khoa: Quản Trị Doanh Nghiệp ra được khả năng cạnh tranh của Công ty so với các đối thủ cạnh tranh trong lĩnh vực văn phòng phẩm và đã đưa ra được các giải pháp giúp Công ty nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường. Luận văn: “Nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần cơ khí Hồng Nam” của Nguyễn Thị Trinh, thực hiện năm 2010. Đề tài đã nghiên cứu và đưa ra được hướng giải quyết giúp Công ty đứng vững trên thị trường, tuy nhiên đề tài chưa chỉ rõ được tình hình thực tế về các công cụ cạnh tranh của Công ty.
Trong thời gian qua, chưa có đề tài nghiên cứu nào về nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty TNHH Đầu Tư – Thương Mại Minh Hòa. Phân định nội dung vấn đề nghiên cứu của đề tài. Cạnh tranh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Các công cụ cạnh tranh.
Cạnh tranh bằng giá cả. Giá cả là biểu hiện bằng tiền giá trị của hàng hóa mà người bán hay doanh nghiệp bán dự định có thể nhận được từ người mua thông qua việc trao đổi hàng hoá đó trên thị trường. Giá cả của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua quan hệ cung cầu. Giá cả của sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố như chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, quan hệ cung cầu, cường độ cạnh tranh trên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước….
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách định giá bán sản phẩm của DN trên thị trường, một DN có thể có các chính sách định giá như: chính sách giá cao, chính sách giá thấp, chính sách giá phân biệt, chính sách giá ngang bằng, chính sách bán phá giá….Tùy trong từng giai đoạn, từng trường hợp mà mỗi DN lựa chọn chính sách giá cho phù hợp. Chính sách giá cao: tức là mức giá bán cao hơn mức giá thống trị trên thị trường và cao hơn giá trị sản phẩm. Chính sách này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có sản phẩm hoặc dịch vụ độc quyền hoặc với doanh nghiệp có chất lượng cao hơn hẳn. Chính sách này giúp cho các doanh nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch.
Luận văn tốt nghiệp 7 Trường Đại Học Thương Mại Luan van Nguyễn Thị Huế - K5HQ1C Khoa: Quản Trị Doanh Nghiệp Chính sách định giá thấp: là chính sách định giá thấp hơn giá thị trường để thu hút khách hàng về phía mình. Chính sách này đòi hỏi doanh nghiệp thực hiện nó phải có tiềm lực vốn lớn, phải tính toán chắc chắn và đầy đủ mọi tình huống rủi ro. Nếu thành công nó sẽ giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh thị trường cũ, thâm nhập vào thị trường mới và bán được khối lượng sản phẩm lớn.