Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Đặng Thị Huế với đề tài "Kế toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam", chuyên ngành Kế toán (mã số: 62.01), được thực hiện tại Trường Đại học Thương mại dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS. Phạm Thị Thu Thủy và PGS,TS. Lê Thị Thanh Hải, bảo vệ năm 2019.
Về tính cấp thiết, tác giả chỉ ra rằng trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu, hệ thống Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS/IFRS) không ngừng được bổ sung và hoàn thiện các quy định về tài sản cố định (TSCĐ). Các chuẩn mực như IAS 16 quy định về tính giá và kế toán chi phí hoàn nguyên môi trường, IAS 36 quy định về suy giảm giá trị tài sản, và IFRS 06 hướng dẫn về thăm dò, đánh giá tài nguyên khoáng sản. Tại Việt Nam, hệ thống pháp lý kế toán gồm Luật Kế toán, 26 Chuẩn mực Kế toán Việt Nam (VAS) và các chế độ kế toán hiện hành đã tiếp cận có chọn lọc các thông lệ quốc tế nhưng vẫn còn bộc lộ những khoảng cách nhất định, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến TSCĐ chưa được cập nhật đầy đủ. Đối với các doanh nghiệp (DN) khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), TSCĐ chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng giá trị tài sản. Dưới tác động của cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các đơn vị phải đối mặt với nguy cơ tụt hậu công nghệ và suy giảm giá trị tài sản. Thêm vào đó, đặc thù khai thác khoáng sản làm phát sinh trách nhiệm hoàn nguyên môi trường, song Thông tư số 200/2014/TT-BTC mới chỉ đề cập khái quát, thiếu hướng dẫn mang tính nguyên tắc và chuẩn mực. Mặt khác, công tác kế toán quản trị (KTQT) TSCĐ tại các đơn vị này chưa được quan tâm tương xứng, thông tin thu thập để xây dựng phương án đầu tư (PAĐT) phần lớn mang tính ước đoán.
Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định gồm ba nội dung:
- Phân tích và lựa chọn cơ sở tính giá thích hợp cho TSCĐ tại các DN Việt Nam và ứng dụng cụ thể vào các DN khai thác than thuộc TKV.
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về kế toán các giao dịch đặc thù của ngành khai khoáng gồm quyền khai thác, chi phí thăm dò khoáng sản và chi phí hoàn nguyên môi trường.
- Hoàn thiện kế toán TSCĐ dưới góc độ KTQT phục vụ quá trình ra quyết định đầu tư, quản lý và sử dụng tài sản.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán và hiệu quả quản lý, sử dụng TSCĐ. Bốn mục tiêu nghiên cứu cụ thể được xác định:
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về TSCĐ và kế toán TSCĐ trong DN, chú trọng nghiên cứu theo quan điểm giá gốc và giá đánh giá lại để rút ra cơ sở tính giá phù hợp.
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV nhằm xác định những kết quả đạt được cùng các hạn chế.
- Xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kế toán TSCĐ tại các DN này.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện kế toán TSCĐ dưới cả hai góc độ kế toán tài chính (KTTC) và KTQT.
Năm câu hỏi nghiên cứu được đặt ra tương ứng:
- Cơ sở lý luận về TSCĐ, kế toán TSCĐ dưới góc độ KTTC, KTQT và các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán TSCĐ trong DN là gì?
- Kế toán TSCĐ theo quan điểm giá gốc, giá đánh giá lại và cơ sở tính giá phù hợp đối với TSCĐ là gì?
- Thực trạng kế toán TSCĐ dưới góc độ KTTC, KTQT tại các DN khai thác than thuộc TKV hiện nay ra sao?
- Các nhân tố ảnh hưởng như thế nào đến kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV?
- Cần có các giải pháp nào để hoàn thiện kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV dưới góc độ KTTC, KTQT?
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn về kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV, tập trung vào nguyên tắc đo lường, ghi nhận, trình bày và cung cấp thông tin đáp ứng yêu cầu quản trị. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn:
- Về nội dung: Nghiên cứu tài sản cố định hữu hình (TSCĐHH) và tài sản cố định vô hình (TSCĐVH) phục vụ sản xuất kinh doanh (SXKD) theo góc độ KTTC và KTQT. Không nghiên cứu TSCĐ đi thuê (do đặc thù hệ thống hầm lò, sàng tuyển gắn liền hạ tầng mỏ nên các DN hầu như không thuê ngoài trong 3 năm khảo sát) và bất động sản đầu tư.
- Về không gian: Các DN khai thác than là chi nhánh trực thuộc Tập đoàn và các công ty con là công ty cổ phần (CTCP) thuộc TKV, giới hạn trên Báo cáo tài chính (BCTC) riêng lẻ, không nghiên cứu BCTC hợp nhất.
- Về thời gian: Khảo sát thực trạng số liệu trong giai đoạn 2016 - 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo sáu nhóm nội dung cụ thể:
Thứ nhất, các nghiên cứu về đo lường và ghi nhận TSCĐ: Peterson (2002) và Kent Kirkpatrick (2009) khẳng định việc ghi nhận ban đầu TSCĐ theo giá gốc bảo đảm tính khách quan và hạn chế sự can thiệp chủ quan. Trần Văn Thuận (2008) và Nguyễn Thị Thu Liên (2009) làm rõ căn cứ xác định nguyên giá dựa trên chứng từ thực tế phát sinh. Mai Ngọc Anh (2010, 2011) chỉ ra rằng trong nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, giá gốc đáp ứng yêu cầu về độ tin cậy của thông tin, đồng thời phân tích 4 cơ sở tính giá sau ghi nhận ban đầu (giá gốc, giá gốc phân bổ, giá đánh giá lại, giá trị hợp lý - GTHL). Magdalena Lech và Malgorzata Kamieniecka (2014), Liliana Lazari (2015) xác định cấu phần nguyên giá TSCĐHH. Đoàn Phi Ngọc Anh (2016) khảo sát 281 DN Việt Nam và chỉ ra việc áp dụng VAS 03 còn nhiều bất cập, đặc biệt trong việc vốn hóa chi phí nâng cấp. Về tài sản đặc thù ngành khai khoáng, Dennis R. Jennings và cộng sự (2000), P. Barnes (2009), Hartini Jaafar (2011), Mohan R. Lavi (2016) phân tích việc vốn hóa chi phí thăm dò thành TSCĐVH khi phát hiện trữ lượng theo IFRS 06; ghi nhận quyền khai thác và chi phí hoàn nguyên môi trường vào nguyên giá TSCĐ theo IAS 16. Đối với cơ sở giá đánh giá lại, Missonier Piera (2007) và Đoàn Vân Anh cùng cộng sự (2011) nêu ra các ưu thế khi GTHL được đo lường đáng tin cậy. Ngược lại, Cairns và cộng sự (2011) chỉ ra chỉ có 5% DN tại Anh và 11% DN tại Australia áp dụng mô hình đánh giá lại; Christensen và Nikolaev (2013) khảo sát 1.539 DN Anh và Đức cho thấy chỉ khoảng 3% áp dụng; Majella Percy (2014), Adrian Manuel Nebot Sanahuja (2015), Flaida Êmine Alves de Souza và Sirlei Lemes (2016) (khảo sát 300 DN tại Brazil, Chile, Peru) đều kết luận đa số DN vẫn lựa chọn giá gốc vì GTHL có tính chủ quan cao và thiếu thị trường hoạt động. Phan Thị Anh Đào (2015) chỉ ra hạn chế của VAS 04 khi chưa phản ánh tổn thất do suy giảm giá trị TSCĐVH sau ghi nhận ban đầu.
Thứ hai, các nghiên cứu về khấu hao TSCĐ: Hansen.Dor (2000) phân tích các phương pháp khấu hao đường thẳng, đơn vị sản phẩm, số dư giảm dần và tổng số năm. Danciu Radu và Deac Marius (2010) khảo sát tại Romania ghi nhận 87% DN dùng phương pháp đường thẳng, 9% dùng số dư giảm dần và 4% dùng phương pháp sản lượng. Vũ Văn Ninh (2013) nhấn mạnh chính sách khấu hao cần cân nhắc đặc tính vật liệu, mục tiêu quản trị và sự hài hòa lợi ích tài chính.
Thứ ba, các nghiên cứu về trình bày và công bố thông tin TSCĐ trên BCTC: Hà Thị Ngọc Hà (2013) nhấn mạnh việc ghi giảm giá trị còn lại khi có lỗ suy giảm tài sản theo IAS 36. Vũ Thị Kim Anh (2014) chỉ rõ DN Việt Nam chủ yếu báo cáo theo nguyên giá và hao mòn lũy kế. Đoàn Phi Ngọc Anh (2016) nhận thấy việc công bố thông tin TSCĐHH tại 281 DN Việt Nam chưa đầy đủ, chỉ 79% đơn vị công bố chỉ tiêu hao mòn lũy kế và giá trị còn lại.
Thứ tư, các nghiên cứu về sự hòa hợp kế toán TSCĐ quốc tế: Herve Stolowy và Anne Jeny (1999) khảo sát 15 nước EU và 6 nước ngoài EU chỉ ra sự thiếu nhất quán trong định nghĩa và phân loại TSCĐVH. Jayne M. Godfrey (2006) phân tích sự khác biệt về kế toán TSCĐVH giữa Anh, Mỹ, Australia, Trung Quốc và IAS. Ekberg Martin và Lindgren Linus (2007) so sánh thực tiễn báo cáo chi phí R&D giữa Thụy Điển và Australia. Magdalena Lech và Malgorzata Kamieniecka (2014) phân tích sự khác biệt giữa luật kế toán Ba Lan và IAS/IFRS.
Thứ năm, các nghiên cứu về quản lý và đánh giá hiệu quả sử dụng TSCĐ: Trần Văn Thuận (2008) xây dựng hệ thống chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong ngành xây dựng. Đoàn Vân Anh và cộng sự (2011) thiết lập hệ thống chỉ tiêu phản ánh sức sản xuất, suất hao phí và mức sinh lời của TSCĐVH tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Sage software (2014) phân tích ứng dụng công nghệ quét mã vạch trong quản lý kiểm kê tài sản.
Thứ sáu, các nghiên cứu về KTQT TSCĐ: Trần Văn Thuận (2008), Nguyễn Thị Thu Liên (2009) và Đoàn Vân Anh cùng cộng sự (2011) tập trung vào việc hoàn thiện hệ thống chứng từ, tài khoản, sổ sách, hệ thống báo cáo phục vụ việc ra quyết định đầu tư và vận hành TSCĐ.
Vị trí của luận án: Luận án giải quyết khoảng trống khi chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống và đồng bộ về việc lựa chọn cơ sở tính giá kết hợp phản ánh suy giảm giá trị tài sản; chưa có nghiên cứu chuyên sâu về kế toán các giao dịch đặc thù ngành khai thác than (quyền khai thác, chi phí thăm dò, chi phí hoàn nguyên môi trường) và xây dựng mô hình KTQT TSCĐ hoàn chỉnh cho các đơn vị khai thác than thuộc TKV.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết kế toán tài chính và kế toán quản trị, đối chiếu giữa hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS 03, VAS 04, Thông tư 200/2014/TT-BTC) và các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS 16, IAS 36, IAS 37, IAS 38, IFRS 06, IFRS 13, Khuôn mẫu lý thuyết IASB 2018).
Các khái niệm cơ bản được tổng hợp từ Peterson (2002), Hennie Van Greuning và Marius Koen (2000), Bùi Văn Vần và cộng sự (2015), Đặng Thị Loan và cộng sự (2009), Võ Văn Nhị và cộng sự (2015). Luận án xác định: TSCĐ là những tài sản do đơn vị kế toán kiểm soát, có giá trị lớn, được xác định một cách đáng tin cậy, sử dụng trong thời gian dài và chắc chắn đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai. Luận án phân tích chi tiết hai quan điểm tính giá:
- Quan điểm giá gốc (Historical cost): Tài sản được ghi nhận ban đầu theo toàn bộ chi phí thực tế phát sinh để đưa tài sản vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Quan điểm giá đánh giá lại (Revaluation model): Bao gồm kế toán điều chỉnh theo mức giá chung (Sweeney, 1936 dựa trên CPI hoặc IPD), giá hiện hành (Limperg; Sweeney, 1936; IASB, 2018), giá đầu ra (MacNeal, 1939; IASB, 2018) và giá trị hợp lý (IFRS 13, FASB).
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp nghiên cứu định tính và thu thập dữ liệu thực tế:
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng bảng hỏi điều tra gồm 60 câu hỏi chia làm 6 nhóm (nhóm 1: thông tin chung; nhóm 2: tổ chức bộ máy và chính sách kế toán; nhóm 3: tình hình quản lý TSCĐ; nhóm 4: thực trạng KTTC TSCĐ; nhóm 5: thực trạng KTQT TSCĐ; nhóm 6: nhân tố ảnh hưởng). Quá trình khảo sát thực hiện trong 2 năm 2017 và 2018 tại 19 DN khai thác than thuộc TKV. Tổng số phiếu phát ra là 95 phiếu, thu về 90 phiếu hợp lệ từ 18 DN, đạt tỷ lệ 94,74%. Tác giả thực hiện nghiên cứu điển hình tại 3 đơn vị: Công ty Than Uông Bí (chi nhánh TKV, khai thác hầm lò và lộ thiên), CTCP Than Đèo Nai và CTCP Than Cao Sơn (hai công ty niêm yết trên sàn chứng khoán). Đồng thời, tác giả thực hiện phỏng vấn chuyên sâu trực tiếp và qua điện thoại đối với các chuyên gia, kiểm toán viên, chuyên viên Bộ Tài chính, kế toán trưởng và cán bộ kỹ thuật của TKV.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp các công trình khoa học, luận án tiến sĩ, tạp chí chuyên ngành, các văn bản quy phạm pháp luật và hệ thống hồ sơ kế toán của TKV.
- Xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để lập bảng thống kê mô tả, phân tích, so sánh và đối chiếu số liệu.
Quy trình nghiên cứu của luận án gồm 6 bước:
| Bước thực hiện |
Nội dung công việc |
| Bước 1 |
Xác định vấn đề nghiên cứu: Kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV |
| Bước 2 |
Tổng quan các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước; xác định khoảng trống nghiên cứu |
| Bước 3 |
Xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi và xây dựng 5 câu hỏi nghiên cứu |
| Bước 4 |
Hệ thống hóa và hoàn thiện cơ sở lý luận về TSCĐ và kế toán TSCĐ trong DN |
| Bước 5 |
Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng kế toán TSCĐ tại các DN khai thác than thuộc TKV |
| Bước 6 |
Đưa ra các kết luận, xây dựng hệ thống giải pháp và khuyến nghị thực hiện |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận về tài sản cố định và kế toán tài sản cố định trong doanh nghiệp
Chương này làm rõ bản chất kinh tế và các tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐHH (theo IAS 16, VAS 03) và TSCĐVH (theo IAS 38, VAS 04). Tác giả phân loại TSCĐ theo hình thái biểu hiện, quyền sở hữu, cũng như mục đích và tình hình sử dụng.
Về nguyên tắc kế toán tài chính, chương 1 phân tích sâu việc đo lường ban đầu và sau ban đầu theo hai quan điểm giá gốc và giá đánh giá lại:
- Đo lường ban đầu: Theo giá gốc, nguyên giá gồm toàn bộ chi phí mua sắm, tự chế, xây dựng và các chi phí liên quan trực tiếp đưa tài sản vào trạng thái hoạt động. Đối với ngành khai khoáng, chương 1 phân tích ba khoản mục đặc thù:
- Chi phí thăm dò khoáng sản (IFRS 06): Được vốn hóa thành TSCĐVH khi hoạt động tìm kiếm xác định được trữ lượng thương mại; nếu không tìm ra trữ lượng thì tính vào chi phí trong kỳ.
- Quyền khai thác khoáng sản (IFRS 06, IAS 38): Được ghi nhận là TSCĐVH trên cơ sở chi phí cấp quyền và thủ tục xin cấp phép, trích khấu hao theo thời hạn giấy phép.
- Chi phí hoàn nguyên môi trường (IAS 16, IAS 37): Là nghĩa vụ pháp lý hiện tại phát sinh từ hoạt động khai thác mỏ. Giá trị ước tính ban đầu của việc phục hồi môi trường, hoàn thổ, san lấp phải được vốn hóa vào nguyên giá TSCĐHH và ghi nhận một khoản dự phòng tương ứng.
- Đo lường sau ban đầu: Gồm kế toán khấu hao (đường thẳng, số dư giảm dần, sản lượng), kế toán chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu (duy trì ghi vào chi phí SXKD; nâng cấp làm tăng lợi ích kinh tế ghi tăng nguyên giá) và kế toán suy giảm giá trị theo IAS 36. Quy trình xác định suy giảm giá trị gồm 3 bước: (1) Xác định đơn vị tạo ra tiền; (2) Kiểm tra dấu hiệu suy giảm bên trong và bên ngoài; (3) Xác định giá trị có thể thu hồi (là giá trị cao hơn giữa GTHL trừ chi phí bán và giá trị sử dụng) để xác định khoản lỗ lũy kế.
Về kế toán quản trị TSCĐ, chương 1 hệ thống hóa việc thu thập, xử lý thông tin phục vụ thẩm định dự án đầu tư TSCĐ thông qua các chỉ tiêu: Giá trị hiện tại thuần (NPV), Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR), Kỳ hoàn vốn (PP) và Chỉ số sinh lời (PI). Đồng thời, xác định vai trò của KTQT trong việc lập dự toán, kiểm soát định mức bảo dưỡng, sửa chữa và phân tích hiệu quả sử dụng tài sản. Chương 1 cũng phân tích các nhân tố ảnh hưởng (nhân tố bên trong: quy mô, lĩnh vực, quan điểm nhà quản trị, trình độ nhân sự, công nghệ thông tin; nhân tố bên ngoài: khung pháp lý, môi trường cạnh tranh, tổ chức nghề nghiệp) và rút ra bài học kinh nghiệm quốc tế cho Việt Nam.
Chương 2: Thực trạng kế toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Chương 2 mô tả đặc điểm SXKD của TKV: các mỏ phân bố chủ yếu tại Quảng Ninh, chia thành khai thác hầm lò và khai thác lộ thiên. TSCĐ chiếm tỷ trọng rất cao, kết cấu phức tạp, môi trường làm việc khắc nghiệt (ẩm ướt, áp lực mỏ, địa chất biến động) dẫn đến hao mòn cơ học và hao mòn vô hình diễn ra nhanh chóng.
Kết quả điều tra thực trạng tại 18 DN khai thác than (90 phiếu hợp lệ) và nghiên cứu điển hình tại Công ty Than Uông Bí, CTCP Than Đèo Nai, CTCP Than Cao Sơn phản ánh:
- Về KTTC: 100% DN áp dụng mô hình giá gốc thuần túy theo quy định của chế độ kế toán Việt Nam. Toàn bộ DN áp dụng phương pháp khấu hao đường thẳng cho tất cả các loại TSCĐ, chưa áp dụng khấu hao theo sản lượng hay số dư giảm dần, dẫn đến chi phí khấu hao chưa phản ánh sát mức độ hao mòn thực tế của máy móc theo sản lượng than khai thác từng kỳ. Toàn bộ DN chưa thực hiện đánh giá và ghi nhận sự suy giảm giá trị tài sản do hệ thống VAS chưa có chuẩn mực tương đương IAS 36 (kết quả khảo sát Hình 2.2 và Hình 2.3 chỉ ra nhận thức của kế toán viên về suy giảm giá trị còn rất hạn chế). Đối với các giao dịch đặc thù: Tiền cấp quyền khai thác than phát sinh rất lớn nhưng việc phân bổ và hạch toán tại các đơn vị còn lúng túng; chi phí thăm dò bổ sung chưa có quy định nhất quán giữa vốn hóa và phí hóa; chi phí hoàn nguyên môi trường chỉ trích nộp quỹ bảo vệ môi trường theo Thông tư 200/2014/TT-BTC mà chưa được vốn hóa đầy đủ vào nguyên giá công trình mỏ theo thông lệ IAS 16 và IAS 37.
- Về KTQT: Công tác KTQT TSCĐ mới ở giai đoạn sơ khai. Các DN chủ yếu thu thập số liệu phục vụ lập kế hoạch mua sắm hàng năm theo phê duyệt của Tập đoàn. Việc phân tích dự án đầu tư mới dừng ở việc ước tính thời gian hoàn vốn giản đơn, chưa ứng dụng rộng rãi các phương pháp chiết khấu dòng tiền như NPV, IRR, PI (kết quả Hình 2.4). Hệ thống chứng từ, sổ chi tiết và báo cáo KTQT chưa tách biệt rõ ràng với KTTC; chưa xây dựng báo cáo chuyên biệt về hiệu suất hoạt động, mức độ tiêu hao năng lượng hay suất sinh lời của từng thiết bị khai thác.
- Phân tích nhân tố ảnh hưởng: Các bảng khảo sát (Bảng 2.1 đến 2.4 và Hình 2.5 đến 2.9) chỉ ra rằng: cơ chế quản lý tài chính tập trung của TKV và sự chậm trễ trong việc cập nhật chuẩn mực kế toán Việt Nam là nhân tố bên ngoài tác động lớn nhất. Về nhân tố bên trong, nhận thức của lãnh đạo đơn vị còn đặt nặng tính tuân thủ pháp lý hơn là nhu cầu quản trị nội bộ; trình độ của nhân viên kế toán về IFRS và công cụ KTQT còn hạn chế; phần mềm kế toán hiện tại chỉ đáp ứng chức năng KTTC, chưa tích hợp mô đun KTQT TSCĐ.
Tác giả đánh giá những thành tựu gồm: hệ thống sổ sách chứng từ KTTC thực hiện nghiêm túc, quản lý chặt chẽ hồ sơ pháp lý tài sản theo quy chế Tập đoàn. Hạn chế cốt lõi là thông tin kế toán chưa phản ánh đúng giá trị thực của TSCĐ (do thiếu ghi nhận suy giảm giá trị), chưa theo kịp hao mòn thực tế (do độc tôn phương pháp đường thẳng) và thông tin KTQT chưa đáp ứng yêu cầu ra quyết định quản trị.
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện kế toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp khai thác than thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam
Trên cơ sở mục tiêu sản lượng than thương phẩm đến năm 2020 và triển vọng năm 2030 (Bảng 3.1), luận án đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ:
Về kế toán tài chính:
- Lựa chọn cơ sở tính giá: Luận án đề xuất áp dụng mô hình giá gốc kết hợp phản ánh suy giảm giá trị tài sản (theo IAS 36) thay vì chuyển đổi ngay sang mô hình giá đánh giá lại (do thị trường máy móc khai thác mỏ tại Việt Nam chưa hoàn hảo). Khi giá trị có thể thu hồi thấp hơn giá trị còn lại, kế toán trích lập và ghi nhận khoản lỗ lũy kế suy giảm giá trị trên BCTC riêng.
- Kế toán các giao dịch đặc thù:
- Quyền khai thác (Sơ đồ 3.1): Ghi nhận toàn bộ chi phí xin cấp phép và tiền cấp quyền khai thác mỏ vào TSCĐVH (TK 213), phân bổ khấu hao theo thời hạn cấp phép ghi trên giấy phép khai thác.
- Chi phí thăm dò khoáng sản (Sơ đồ 3.2, 3.3): Hoạt động khoan thăm dò phát hiện trữ lượng than được vốn hóa vào TSCĐVH; nếu không phát hiện trữ lượng thì kết chuyển trực tiếp vào chi phí SXKD trong kỳ.
- Chi phí hoàn nguyên môi trường (Sơ đồ 3.4): Ước tính toàn bộ chi phí phục hồi đất đai, san lấp, hoàn thổ sau khai thác để vốn hóa vào nguyên giá công trình mỏ (TK 211), đồng thời ghi nhận nợ phải trả dài hạn - khoản dự phòng hoàn nguyên môi trường (TK 352).
- Chi phí sửa chữa lớn (Sơ đồ 3.5): Trích trước chi phí sửa chữa lớn đối với các thiết bị làm việc liên tục trong môi trường mỏ độc hại, nặng nhọc để tránh biến động giá thành sản xuất.
- Đổi mới phương pháp khấu hao: Áp dụng phương pháp khấu hao theo sản lượng cho máy xúc đá công suất lớn (Bảng 3.6, 3.7) nhằm gắn chi phí với khối lượng đất đá bóc dỡ thực tế; áp dụng phương pháp số dư giảm dần cho thiết bị công nghệ dễ hao mòn vô hình như máy xúc lật hông ZCY-60B (Bảng 3.8).
Về kế toán quản trị:
- Hoàn thiện công cụ phân tích đầu tư TSCĐ: Áp dụng quy trình phân tích dòng tiền chiết khấu thông qua các bảng tính chi tiết: Giá trị hiện tại thuần - NPV (Bảng 3.2), Chỉ số sinh lời nội bộ - IRR (Bảng 3.3), Kỳ hoàn vốn có chiết khấu (Bảng 3.4) và Chỉ số sinh lời - PI (Bảng 3.5) trước khi phê duyệt dự án mua sắm tài sản mỏ.
- Xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân tích tình hình trang bị, tình trạng kỹ thuật và hiệu quả sử dụng TSCĐ (Bảng 3.9 và 3.10), bao gồm: hệ số trang bị TSCĐ cho lao động, hệ số hao mòn, hệ số đổi mới, hệ số sử dụng công suất, sức sản xuất của TSCĐ (doanh thu/nguyên giá bình quân) và suất sinh lời của TSCĐ (lợi nhuận/nguyên giá bình quân).
- Hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT nội bộ: Thiết kế các mẫu báo cáo chi tiết về tiến độ thực hiện dự án đầu tư TSCĐ, báo cáo phân tích chi phí vận hành - bảo dưỡng và báo cáo đánh giá hiệu năng từng tổ hợp thiết bị đào lò, khai thác than.
Về điều kiện thực hiện: Luận án kiến nghị Bộ Tài chính sớm ban hành chuẩn mực kế toán về suy giảm giá trị tài sản và chuẩn mực cho ngành khai khoáng tương đương IAS 36, IFRS 06; kiến nghị các tổ chức nghề nghiệp (VAA, VACPA) tăng cường đào tạo chuyên môn; kiến nghị Tập đoàn TKV phân cấp quyền chủ động đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin và kiện toàn nhân sự kế toán tại các đơn vị thành viên.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận:
- Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về kế toán TSCĐ theo hai quan điểm giá gốc và giá đánh giá lại; luận giải một cách khoa học việc lựa chọn mô hình giá gốc kết hợp phản ánh suy giảm giá trị tài sản là mô hình phù hợp nhất với điều kiện kinh tế thị trường tại Việt Nam hiện nay.
- Hoàn thiện cơ sở lý luận về kế toán các giao dịch đặc thù của doanh nghiệp ngành khai khoáng trên cơ sở đối chiếu với các chuẩn mực quốc tế: chuẩn hóa quy trình vốn hóa chi phí thăm dò khoáng sản (IFRS 06), vốn hóa quyền khai thác mỏ và vốn hóa chi phí hoàn nguyên môi trường (IAS 16, IAS 37).
Về mặt thực tiễn:
- Phản ánh bức tranh toàn diện, có căn cứ thực nghiệm qua khảo sát 18 doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV về thực trạng đo lường, ghi nhận, trình bày BCTC và tổ chức KTQT TSCĐ; chỉ rõ nguyên nhân của các hạn chế bắt nguồn từ cơ chế quản lý tập trung và sự lạc hậu của hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia.
- Cung cấp gói giải pháp kỹ thuật có tính ứng dụng cao cho TKV: từ các sơ đồ hạch toán chi tiết nghiệp vụ đặc thù ngành mỏ, mô hình kết hợp khấu hao linh hoạt theo sản lượng và số dư giảm dần, đến hệ thống biểu mẫu phân tích dòng tiền dự án đầu tư (NPV, IRR, PP, PI) và hệ thống chỉ tiêu giám sát hiệu năng sử dụng máy móc thiết bị hầm lò, lộ thiên.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án không đi sâu nghiên cứu kế toán TSCĐ đi thuê và bất động sản đầu tư do đặc thù hạ tầng khai thác than tại các đơn vị khảo sát không phát sinh các giao dịch này trong giai đoạn nghiên cứu. Đồng thời, phạm vi khảo sát mới giới hạn trên BCTC riêng của các doanh nghiệp thành viên, chưa phân tích các chỉ tiêu kế toán TSCĐ trên BCTC hợp nhất của toàn Tập đoàn TKV.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được xác định là:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu kế toán TSCĐ trên BCTC hợp nhất tại các tập đoàn kinh tế nhà nước hoạt động trong lĩnh vực khai thác tài nguyên khoáng sản.
- Nghiên cứu ứng dụng mô hình xác định giá trị hợp lý và kỹ thuật ước tính giá trị sử dụng (Value in use) khi thị trường chuyển nhượng máy móc, công nghệ khai thác mỏ tại Việt Nam phát triển đầy đủ và minh bạch hơn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán và Quản trị kinh doanh trong việc nghiên cứu kế toán tài chính, kế toán quản trị chuyên ngành công nghiệp khai khoáng và lộ trình tiệm cận IFRS.
- Nhà quản trị, kế toán trưởng và kiểm toán viên tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam và các doanh nghiệp khai khoáng trong việc thiết lập hệ thống báo cáo KTQT TSCĐ, đánh giá hiệu quả dự án đầu tư và xử lý các nghiệp vụ đặc thù về quyền khai thác, hoàn nguyên mỏ.
- Cơ quan xây dựng chính sách (Bộ Tài chính) trong quá trình nghiên cứu, soạn thảo và ban hành hệ thống Chuẩn mực Báo cáo tài chính Việt Nam (VFRS) tiệm cận IAS 16, IAS 36, IAS 37 và IFRS 06.
Câu hỏi thường gặp
-
Vì sao luận án đề xuất áp dụng mô hình giá gốc kết hợp phản ánh suy giảm giá trị thay vì mô hình giá đánh giá lại?
Luận án căn cứ vào đặc thù của nền kinh tế Việt Nam và các nghiên cứu quốc tế (Cairns và cộng sự, 2011; Christensen và Nikolaev, 2013). Mô hình giá đánh giá lại đòi hỏi phải có thị trường hoạt động sôi động để xác định GTHL đáng tin cậy. Tại Việt Nam, máy móc thiết bị ngành mỏ mang tính chuyên dụng cao, không có thị trường giao dịch phổ biến, việc định giá dễ dẫn đến ước tính chủ quan. Mô hình giá gốc kết hợp ghi nhận suy giảm giá trị (IAS 36) vừa đảm bảo tính tin cậy của chi phí lịch sử, vừa đáp ứng nguyên tắc thận trọng khi tài sản bị giảm giá trị thu hồi.
-
Chi phí hoàn nguyên môi trường được luận án đề xuất hạch toán như thế nào?
Theo đề xuất dựa trên IAS 16 và IAS 37, chi phí hoàn nguyên môi trường là nghĩa vụ hiện tại phát sinh từ hoạt động khai thác. Doanh nghiệp phải ước tính giá trị hiện tại của chi phí phục hồi đất đai, trồng cây, san lấp sau khai thác để vốn hóa vào nguyên giá TSCĐHH công trình mỏ (ghi Nợ TK 211) và ghi nhận nghĩa vụ nợ phải trả dài hạn (ghi Có TK 352). Khoản chi phí này sau đó được chuyển dần vào chi phí sản xuất thông qua khấu hao TSCĐ theo vòng đời khai thác của mỏ.
-
Chi phí thăm dò khoáng sản được ghi nhận vào tài sản hay chi phí theo chuẩn mực quốc tế và đề xuất của tác giả?
Theo IFRS 06 và đề xuất của tác giả tại Sơ đồ 3.2 và 3.3, việc xử lý phụ thuộc vào kết quả thăm dò: Nếu hoạt động khoan thăm dò phát hiện và xác định được trữ lượng khoáng sản thương mại có khả năng khai thác sinh lời thì toàn bộ chi phí phát sinh được vốn hóa thành TSCĐVH. Nếu kết quả thăm dò không tìm thấy trữ lượng khoáng sản thì toàn bộ chi phí phát sinh phải ghi nhận trực tiếp vào chi phí SXKD trong kỳ, không được vốn hóa.
-
Quy mô mẫu khảo sát thực tế của luận án được thực hiện như thế nào?
Tác giả đã phát ra 95 phiếu khảo sát tại 19 doanh nghiệp khai thác than thuộc TKV trong hai năm 2017 và 2018. Kết quả thu về 90 phiếu hợp lệ từ 18 doanh nghiệp, đạt tỷ lệ 94,74%. Ngoài khảo sát diện rộng, tác giả đi sâu nghiên cứu điển hình tại 3 đơn vị đại diện gồm Công ty Than Uông Bí, CTCP Than Đèo Nai và CTCP Than Cao Sơn, kết hợp phỏng vấn chuyên sâu chuyên gia, kiểm toán viên và cán bộ kế toán.
-
Luận án đề xuất các phương pháp phân tích nào để phục vụ quyết định đầu tư TSCĐ trong KTQT?
Thay vì chỉ ước tính thời gian hoàn vốn giản đơn, luận án đề xuất ứng dụng đồng bộ 4 phương pháp dòng tiền chiết khấu (DCF) thông qua các bảng tính chi tiết: Giá trị hiện tại thuần (NPV), Tỷ suất sinh lời nội bộ (IRR), Kỳ hoàn vốn có chiết khấu (PP) và Chỉ số sinh lời (PI). Các chỉ số này giúp nhà quản trị cân nhắc chính xác yếu tố giá trị thời gian của tiền và mức độ rủi ro trong các dự án đầu tư thiết bị mỏ có quy mô vốn lớn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đặng Thị Huế là công trình nghiên cứu chuyên sâu về kế toán tài sản cố định trong lĩnh vực khai thác than tại Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa khung lý thuyết kế toán quốc tế và dữ liệu khảo sát thực chứng tại 18 doanh nghiệp ngành than để làm rõ các tồn tại trong thực tiễn hạch toán. Các giải pháp đề xuất tập trung vào việc áp dụng mô hình giá gốc kết hợp suy giảm giá trị tài sản, chuẩn hóa kế toán các giao dịch đặc thù ngành mỏ và hoàn thiện hệ thống công cụ kế toán quản trị phục vụ ra quyết định đầu tư. Công trình đóng góp cả về mặt học thuật lý luận và cung cấp hệ thống giải pháp kỹ thuật hữu ích cho công tác quản trị tài chính tại các doanh nghiệp khai khoáng.