lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Khái quát về xúc tiến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chƣơng 2: Thực trạng xúc tiến đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại một số tỉnh phía Bắc Chƣơng 3: Giải pháp thúc đẩy và nâng cao hiệu quả XTĐT trực tiếp nƣớc ngoài tại các tỉnh phía Bắc 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ XÚC TIẾN ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm và vai trò 1. Khái niệm Đầu tư trực tiếp nước ngoài Đầu tƣ nói chung là việc huy động và sử dụng mọi nguồn vốn (gồm cả tài sản hữu hình và tài sản vô hình) phục vụ sản xuất kinh doanh nhằm sản xuất sản phẩm hay cung cấp dịch vụ để thu đƣợc lợi nhuận và các lợi ích phát triển kinh tế, xã hội. Đứng trên phƣơng diện quốc tế, đầu tƣ là việc di chuyển vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào từ nƣớc này sang nƣớc khác để sử dụng vào một hoạt động nhất định nhằm thu lợi nhuận và các mục tiêu kinh tế, xã hội.
Theo giáo trình Đầu tƣ Quốc tế của tác giả Phùng Xuân Nhạ, xuất bản năm 2001 thì đầu tƣ đƣợc hiểu nhƣ sau: "Đầu tƣ là việc sử dụng nột lƣợng tài sản nhất định nhƣ vốn, công nghệ, đất đai,.vào một hoạt động kinh tế cụ thể nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận.28] Về bản chất, đầu tƣ quốc tế là hình thức xuất khẩu tƣ bản, một hình thức cao hơn của xuất khẩu hàng hoá. Hai hình thức xuất khẩu này luôn bổ sung và hỗ trợ nhau trong chiến lƣợc thâm nhập, chiếm lĩnh thị trƣờng của các công ty, tập đoàn hiện nay. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, hoạt động đầu tƣ quốc tế ngày càng phát triển mạnh mẽ, không thể tách rời trong hợp tác kinh tế của các các nƣớc. Trên phƣơng diện một nƣớc đầu tƣ quốc tế là đầu tƣ nƣớc ngoài.
Đầu tƣ nƣớc ngoài là việc các nhà đầu tƣ, pháp nhân hoặc cá nhân đƣa vốn hoặc bất kỳ hình thức giá trị nào vào nƣớc tiếp nhận đầu tƣ để thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ nhằm thu lợi nhuận và đạt đƣợc các hiệu quả xã hội. Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một dạng của đầu tƣ quốc tế nói chung. Khái niệm về FDI đƣợc thừa nhận rộng rãi trên thế giới: * Theo Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là một loại hình đầu tƣ quốc tế trong đó một tổ chức cƣ trú tại một nền kinh tế thu đƣợc lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Lợi ích lâu dài ở đây hàm ý sự tồn tại trong thời gian dài của một mối quan hệ giữa nhà đầu tƣ trực tiếp và doanh nghiệp này và mức độ ảnh hƣởng đáng kể của nhà đầu tƣ đối với doanh nghiệp này.Đầu tƣ trực tiếp nhằm đạt đƣợc những lợi ích lâu dài trong một doanh 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp hoạt động trên lãnh thổ một nền kinh tế khác nền kinh tế nƣớc chủ đầu tƣ.
Mục đích của chủ đầu tƣ là nhằm giành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp. * Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): Đầu tƣ trực tiếp đƣợc thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp, đặc biệt là những khoản đầu tƣ mang lại khả năng tạo ảnh hƣởng đối với việc quản lý doanh nghiệp này bằng cách thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tƣ. * Theo Hội nghị Thƣơng mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD): Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là sự đầu tƣ với một quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một chủ thể thƣờng trú trong một nền kinh tế (nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hay công ty mẹ) tại một doanh nghiệp trong một nền kinh tế khác không phải nền kinh tế của nhà đầu tƣ nƣớc ngoài (doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hoặc doanh nghiệp chi nhánh hoặc cơ sở chi nhánh ở nƣớc ngoài). FDI hàm ý nhà đầu tƣ có ảnh hƣởng đáng kể tới việc quản lý điều hành doanh nghiệp ở nền kinh tế khác.
Sự đầu tƣ nhƣ vậy bao gồm cả những giao dịch ban đầu giữa hai chủ thể cũng nhƣ tất cả các giao dịch về sau giữa hai bên và giữa các cơ sở chi nhánh ở nƣớc ngoài, cả chi nhánh có gắn kết và chi nhánh không gắn kết. FDI có thể do các cá thể cũng nhƣ các chủ thể kinh doanh thực hiện. Dòng FDI bao gồm vốn do một nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cung cấp (trực tiếp hoặc thông qua các doanh nghiệp liên quan) cho một doanh nghiệp có vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài hoặc là vốn nhà đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài nhận đƣợc từ một doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhƣ vậy, có 3 thành phần trong FDI: vốn cổ phần, thu nhập tái đầu tƣ và các khoản vay trong nội bộ công ty.
* Một khái niệm khái quát khác về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài: Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại một quốc gia là việc nhà đầu tƣ ở một nƣớc khác đƣa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào quốc gia đó để có quyền sở hữu và quản lý hoặc có quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại nƣớc khác đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình. Tài sản trong khái niệm này có thể là tài sản hữu hình (máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ, các loại hợp đồng và giấy phép có giá trị…) hoặc tài sản tài chính (cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, giấy ghi nợ,…).Nhƣ vậy, theo một cách hiểu đơn giản, đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài là hình thức đầu tƣ quốc tế trong đó chủ đầu 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tƣ ở một nƣớc đầu tƣ toàn bộ hay phần đủ lớn vốn đầu tƣ của các dự án ở nƣớc khác nhằm giành quyền kiểm soát hoặc tham gia kiểm soát các doanh nghiệp sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ thƣơng mại. * Luật Đầu tƣ nƣớc ngoài tại Việt Nam (1987): “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoàilàviệc tổ chức, cá nhân nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền nƣớc ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào đƣợc Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài theo quy định của Luật này”[24,tr. * Luật Đầu tƣ (2005) của Việt Nam không định nghĩa gộp “Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài” mà tách thành hai khái niệm “Đầu tƣ trực tiếp” và “Đầu tƣ nƣớc ngoài”.
“Đầu tƣ trực tiếp là hình thức đầu tƣ do nhà đầu tƣ bỏ vốn đầu tƣ và tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ. Đầu tƣ nƣớc ngoài (ĐTNN) là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tƣ”[25,tr.Do vậy đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài có thể hiểu là việc nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đƣa vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tham gia quản lý hoạt động đầu tƣ tại nƣớc tiếp nhận đầu tƣ. Vai tròcủa nguồn vốn FDI 1. Vai trò tích cực - Bổ sung nguồn vốn.
Trong các lý luận về tăng trƣởng kinh tế, nhân tố vốn luôn đƣợc đề cập đến nhƣ là một nhân tố vô cùng quan trọng. Khi một nền kinh tế muốn tăng trƣởng nhanh hơn, nó cần có nhiều vốn hơn nữa. Nếu vốn trong nƣớc không đủ, nền kinh tế sẽ cần đến vốn từ nƣớc ngoài. Trong các nguồn vốn nƣớc ngoài thì vốn FDI đƣợc đánh giá là rất quan trọng đối với nhiều nƣớc.
FDI chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng vốn đầu tƣ toàn xã hội của các nƣớc đang và kém phát triển. Ngoài ý nghĩa bổ sung một lƣợng vốn đáng kể cho đầu tƣ phát triển kinh tế, cần nói đến chất lƣợng của vốn FDI. Sự có mặt của nguồn vốn này đã góp phần tạo điều kiện cho nguồn vốn nhà nƣớc tập trung vào các vấn đề kinh tế xã hội ƣu tiên. Nguồn vốn này cũng góp phần nâng cao chất lƣợng, hiệu quả của vốn trong nƣớc.
Các doanh nghiệp FDI vừa tạo ra sự hợp tác vừa tạo sự cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nƣớc. Từ đó thúc đẩy đầu tƣ trong nƣớc phát triển, gắn kết các công ty trong nƣớc với thị trƣờng thế giới. Nhờ vậy, nền kinh tế trong nƣớc phát triển hiệu quả hơn. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tiếp nhận chuyển giao công nghệ.
Thu hút FDI từ các công ty đa quốc gia sẽ giúp một nƣớc có cơ hội tiếp thu công nghệ và bí quyết quản lý kinh doanh mà các công ty này đă tích lũy và phát triển qua nhiều năm và bằng những khoản chi phí lớn. Công nghệ đƣợc chuyển giao thông qua FDI có thể nói là có nhiều ƣu điểm. Thứ nhất, doanh nghiệp có đƣợc công nghệ “trọn gói”. Thứ hai, nó giúp phá vỡ sự cân bằng hiện thời của thị trƣờng và buộc các hãng nội địa phải tự đổi mới.
Thứ ba, công nghệ mới và hiện đại thƣờng chỉ có đƣợc thông qua quan hệ nội bộ công ty. Thứ tƣ, lợi thế của một công ty đa quốc gia giúp khai thác tiềm lực công nghệ hiệu quả. Tuy nhiên, việc phổ biến các công nghệ và bí quyết quản lý đó ra cả nƣớc thu hút đầu tƣ còn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực tiếp thu của nƣớc sở tại. - Tạo việc làm và phát triển nguồn nhân lực.
Một trong những mục đích của FDI là khai thác các điều kiện để đạt đƣợc chi phí sản xuất thấp, nên xí nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ thuê mƣớn nhiều lao động địa phƣơng. Thu nhập của một bộ phận dân cƣ địa phƣơng đƣợc cải thiện sẽ đóng góp tích cực vào tăng trƣởng kinh tế của địa phƣơng. Trong quá trình thuê mƣớn đó, đào tạo các kỹ năng nghề nghiệp, mà trong nhiều trƣờng hợp là mới mẻ và tiến bộ ở các nƣớc đang phát triển thu hút FDI, sẽ đƣợc xí nghiệp cung cấp. Điều này tạo ra một đội ngũ lao động có kỹ năng cho nƣớc thu hút FDI.
Không chỉ có lao động thông thƣờng, mà cả các nhà chuyên môn địa phƣơng cũng có cơ hội làm việc và đƣợc bồi dƣỡng nghiệp vụ ở các xí nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài.