phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc viết theo kết cấu gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xoá đói giảm nghèo Chƣơng 2: Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2013. Chƣơng 3: Mục tiêu và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2014 - 2015. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Khái niệm đói nghèo và các tiêu chí đánh giá đói nghèo 1.
Một số khái niệm Nghèo đói là một vấn đề mà cả cộng đồng thế giới quan tâm, song hiểu thế nào là đói, nghèo lại là vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Gần đây, tổ chức UNDP đƣa ra các tiêu chí: tuổi thọ, tình trạng phát triển, thu nhập để đánh giá tình trạng đói, nghèo. Nhƣng quan niệm chung nhất về đói, nghèo đƣợc Hội nghị bàn về đói, nghèo do Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 thống nhất nhƣ sau: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán các địa phƣơng. Gần đây Liên Hợp Quốc đƣa ra hai khái niệm nghèo đói nhƣ sau: Nghèo tuyệt đối: Là một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những nhu cầu tối thiểu cơ bản cho cuộc sống.
Nhu cầu đó bao gồm: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh. Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng. Nghèo tƣơng đối đƣợc xét trong tƣơng quan xã hội, phụ thuộc vào địa bàn dân cƣ đang sống. Vì vậy, mức sống của những ngƣời nghèo tƣơng đối sẽ khác nhau ở những địa điểm và thời gian khác nhau.
Nghèo tƣơng đối cũng biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối và thu nhập. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo Để đánh giá tình trạng đói nghèo, trên thế giới vẫn coi các chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc gia (GNP) bình quân đầu 8 ngƣời/năm là một trong những căn cứ cơ bản nhất xét về lƣợng giá trị thu nhập danh nghĩa để xếp loại giàu nghèo giữa các quốc gia. Theo cách tiếp cận này thì những nƣớc nghèo nhất thƣờng là các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển, có GDP bình quân đầu ngƣời chỉ ở mức thấp dƣới 610 USD. Ngoài ra, trên thế giới còn sử dụng 7 tiêu chí tổng hợp trong đó có chỉ số phát triển con ngƣời (HDI).
Nếu xét theo cách tiếp cận này thì Việt Nam đƣợc xếp cao hơn trong bảng xếp hạng đánh giá sự phát triển của các quốc gia. Để đánh giá mức độ đói nghèo còn có khái niệm chuẩn mực đói nghèo để làm căn cứ xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc xác định kế hoạch cho các chƣơng trình sự án xóa đói giảm nghèo bảo đảm công bằng xã hội. Nói chung quan niệm của nhiều nƣớc cho rằng, hộ nghèo có mức thu nhập dƣới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội. Với quan điểm này hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỷ ngƣời (25%) đang sống trong tình trạng nghèo khó, tức là sống dƣới 420 USD ngƣời/năm hoặc là 35 USD/ngƣời/tháng mà ngân hàng thế giới đã ấn định.
Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Ngân hàng thế giới đƣa ra thƣớc đo nghèo đói nhƣ sau: - Các nƣớc công nghiệp phát triển: 14USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc Đông Á: 04USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc thuộc Mỹ Latinh và vùng Caribe: 02USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc đang phát triển: 01USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc nghèo và một số ngƣời đƣợc coi là đói nghèo: 0,5USD/ ngày/ ngƣời. 9 Tuy vậy các quốc gia đều đƣa ra chuẩn nghèo đói riêng của nƣớc mình và thƣờng thấp hơn chuẩn đói nghèo mà Ngân hàng thế giới khuyến nghị. Nƣớc Mỹ chuẩn đói nghèo là thu nhập dƣới 16.000USD đối với một bộ phận gia đình 4 ngƣời trong 1 năm, tƣơng ứng 11,1USD/ ngày/ ngƣời; Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 Nhân dân tệ/ năm/ ngƣời, tƣơng đƣơng 0,33USD/ ngày/ ngƣời.
Tóm lại, khi xem xét về khía cạnh đói nghèo của các quốc gia trên thế giới, ta có thể thống nhất ở một số điểm sau đây: - Xét hiện tƣợng đói nghèo trƣớc hết phải xem xét các lĩnh vực kinh tế, do đó phải chú ý đến dấu hiệu về mức sống thông qua các nhu cầu cơ bản tối thiểu về đời sống vật chất, xác định tiêu chí do hiện tƣợng đói nghèo phải dựa trên thu nhập bình quân tính theo đầu ngƣời/tháng theo hai khu vực nông thôn và thành thị, tiêu chí này liên hệ mật thiết với tiêu chí trên về chế độ dinh dƣỡng và năng lƣợng (kcalo)/ngƣời/ngày. - Cụ thể hóa thu nhập bằng cách lƣợng hóa quy ra hiện vật đƣợc tính bằng gạo/ngƣời/tháng. - Từ chỉ số thu nhập chia ra các khoản tiêu dùng phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để xem xét đối tƣợng dân cƣ đói nghèo phải chi cho ăn chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng cơ cấu tiêu dùng của họ. Điều đó cho phép làm nổi bật thực trạng đói nghèo và độ chệnh lệch có tính chất vùng hoặc khu vực giữa các đối tƣợng khác nhau.
Ngoài ra cũng có thể dùng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân/ngƣời/năm (USD) để so sánh đánh giá mức độ giàu nghèo giữa các quốc gia. Vậy, có nhiều cách tiếp cận về đói nghèo, cho nên có nhiều cách lý giải về các quan niệm đói nghèo. Hơn nữa, chúng ta thấy đói nghèo là một phạm 10 trù lịch sử mang tính tƣơng đối. Do vậy, đói nghèo đƣợc biến đổi theo thời gian, không gian và sự vận động của nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia.
Với phƣơng pháp luận trên, căn cứ vào tình hình xã hội và hiện trạng đời sống của dân cƣ hiện nay, Việt Nam xác lập tiêu chí đánh giá đói nghèo theo các chỉ tiêu sau đây: Thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, tƣ liệu sản xuất và vốn liếng để giành. Trong 4 chỉ tiêu đó cần đặc biệt chú ý chỉ tiêu thu nhập và nhà ở. Hai chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp mức sống hàng ngày hay mức độ thực hiện các nhu cầu cơ bản tối thiểu của đời sống nhân dân. Các chỉ tiêu về tƣ liệu sản xuất và vốn liếng cũng có ý nghĩa không nhỏ và nó làm rõ tình cảnh của những ngƣời nghèo, hộ nghèo.
Thực tế cho thấy những hộ dân cƣ đã lâm vào hoàn cảnh đói nghèo thì tƣ liệu sản xuất ít và lạc hậu và hầu nhƣ không có vốn tích lũy cho sản xuất và tái sản xuất. Ngoài ra, còn các chỉ tiêu phụ nhƣ: dinh dƣỡng bữa ăn, các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại. Ủy ban Dân tộc miền núi còn đƣa ra 5 tiêu chí xác định xã thuộc nhóm đặc biệt khó khăn gồm: địa bàn cƣ trú, yếu tố xã hội, điều kiện sản xuất, đời sống, hạ tầng cơ sở. Ở nƣớc ta, việc lấy chuẩn mực đói nghèo để xác định ranh giới đang còn nhiều ý kiến khác nhau.
Căn cứ vào thu nhập biểu hiện bằng tiền vẫn là tiêu chí cơ bản để phản ánh mức sống. Ngoài ra, còn sử dụng cả hình thức hiện vật hóa, phổ biến là quy ra gạo để loại bỏ yếu tố giá cả. Bộ Lao động - TB&XH đã xây dựng chuẩn mực xác định hộ đói nghèo qua các mốc thời gian cụ thể nhƣ sau: * Lần 1: vào năm 1993 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với thành thị) và 8 kg gạo (đối với nông thôn). 11 - Hộ nghèo: Thu nhập dƣới 20 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với thành thị) và dƣới 15 kg (đối với nông thôn).
* Lần 2: vào năm 1995 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với mọi vùng). - Hộ nghèo, tính theo 3 vùng, cụ thể nhƣ sau: + Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 15 kg quy gạo/ngƣời/tháng. + Nông thôn, miền đồng bằng, trung du: Dƣới 20 kg quy gạo/ngƣời/tháng. + Thành thị: Dƣới 25 kg quy gạo/ngƣời/tháng.
* Lần 3: vào năm 1997 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 45. - Hộ nghèo theo 3 vùng nhƣ sau: + Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 15 kg gạo/ngƣời/tháng ( bằng 55. + Nông thôn, đồng bằng, trung du: Dƣới 20 kg gạo/ngƣời/tháng ( bằng 70. + Thành thị: Dƣới 25 kg gạo/ngƣời/tháng (bằng 90.
* Lần 4: giai đoạn 2001 - 2005 , hộ nghèo theo 3 vùng nhƣ sau: [ 11. - Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 80.000đ/ngƣời/tháng, (960. - Nông thôn, đồng bằng, trung du: Dƣới 100.000đ/ngƣời/tháng (1.000đ/ngƣời/năm) đ đ - Thành thị: Dƣới 150.000 /ngƣời/tháng (1.000 /ngƣời/năm) * Lần 5: giai đoạn 2006 - 2010. 12 Năm 2005, Thủ tƣớng đã ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 về việc xác định chuẩn mực đói nghèo mới giai đoạn 2006 - 2010 là: - Khu vực thành thị là 260.000 đồng/ ngƣời/tháng.
- Khu vực nông thôn là 200.000 đồng/ngƣời/tháng. * Lần 6: giai đoạn 2011 - 2015 Năm 2011, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc xác định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015 là: [ 13. - Khu vực thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ ngƣời/tháng trở xuống. - Khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống.
- Hộ cận nghèo thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ ngƣời/tháng trở xuống. - Hộ cận nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 đƣợc xác định theo phƣơng pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm. Phần chi cho lƣơng thực, thực phẩm bảo đảm năng lƣợng hàng ngày cho một ngƣời là 2100 kcalo, chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu; phần chi cho lƣơng thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội) chiếm khoảng 40%.
Tổng chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực thực phẩm quy ra tiền gọi là chuẩn nghèo.