Luận văn thạc sĩ về nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc

Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu ueb cải thiện kết quả xóa đói giảm nghèo của tỉnh vĩnh phúc quản lý kinh tế, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2014

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO

1.1. Khái niệm đói nghèo và các tiêu chí đánh giá đói nghèo

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2010 - 2013

3. CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA TỈNH VĨNH PHÚC GIAI ĐOẠN 2014 – 2015

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hiệu quả xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc

Tỉnh Vĩnh Phúc, một trong những tỉnh đang phát triển nhanh chóng của Việt Nam, đã có những nỗ lực đáng kể trong công tác xóa đói giảm nghèo. Tuy nhiên, hiệu quả của các chương trình này vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo không chỉ giúp cải thiện đời sống của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

1.1. Khái niệm và tiêu chí đánh giá đói nghèo

Đói nghèo được hiểu là tình trạng mà một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo bao gồm thu nhập, nhà ở, và các điều kiện sống tối thiểu. Việc xác định rõ các tiêu chí này là rất quan trọng để có thể thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo hiệu quả.

1.2. Tình hình đói nghèo tại Vĩnh Phúc

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại Vĩnh Phúc vẫn còn cao so với các tỉnh khác trong khu vực. Các nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này bao gồm thiếu việc làm, thu nhập thấp và thiếu các dịch vụ xã hội cơ bản. Việc phân tích tình hình này sẽ giúp đưa ra các giải pháp phù hợp.

II. Những thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực, nhưng công tác xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc vẫn gặp phải nhiều thách thức. Các vấn đề như thiếu nguồn lực, chính sách chưa đồng bộ và sự tham gia của cộng đồng còn hạn chế là những yếu tố cản trở sự thành công của các chương trình này.

2.1. Thiếu nguồn lực và chính sách hỗ trợ

Nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc gặp khó khăn trong việc huy động nguồn lực. Chính sách hỗ trợ cho người nghèo chưa thực sự hiệu quả, dẫn đến việc nhiều hộ gia đình vẫn sống trong cảnh nghèo đói.

2.2. Sự tham gia của cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo

Sự tham gia của cộng đồng trong các chương trình xóa đói giảm nghèo còn hạn chế. Nhiều người dân chưa nhận thức rõ về quyền lợi và trách nhiệm của mình trong việc thoát nghèo, dẫn đến việc thiếu sự đồng thuận và hỗ trợ từ phía cộng đồng.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc

Để nâng cao hiệu quả công tác xóa đói giảm nghèo, Vĩnh Phúc cần áp dụng các phương pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc xây dựng các chương trình hỗ trợ cụ thể, kết hợp với việc nâng cao năng lực cho người dân là rất cần thiết.

3.1. Xây dựng chương trình hỗ trợ cụ thể cho người nghèo

Các chương trình hỗ trợ cần được thiết kế phù hợp với nhu cầu thực tế của người nghèo. Việc cung cấp đào tạo nghề, hỗ trợ vốn và tạo việc làm là những giải pháp cần thiết để giúp người dân thoát nghèo bền vững.

3.2. Tăng cường năng lực cho cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo

Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo là rất quan trọng. Cán bộ cần được đào tạo về kỹ năng quản lý, tư vấn và hỗ trợ người nghèo, từ đó giúp họ thực hiện tốt hơn các chương trình hỗ trợ.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Vĩnh Phúc

Các chương trình xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc đã đạt được một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, cần có sự đánh giá và điều chỉnh để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của các chương trình này.

4.1. Kết quả thực hiện các chương trình xóa đói giảm nghèo

Nhiều hộ gia đình đã thoát nghèo nhờ vào các chương trình hỗ trợ. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao, cho thấy cần có sự cải thiện trong việc thực hiện các chương trình này.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các chương trình thành công

Các chương trình thành công tại Vĩnh Phúc đã chỉ ra rằng việc kết hợp giữa hỗ trợ tài chính và đào tạo nghề là rất hiệu quả. Cần tiếp tục phát huy những mô hình này để nhân rộng ra các khu vực khác.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho công tác xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc

Công tác xóa đói giảm nghèo tại Vĩnh Phúc cần được tiếp tục đẩy mạnh với các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Việc huy động sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội là rất quan trọng để đạt được mục tiêu này.

5.1. Định hướng phát triển bền vững trong công tác xóa đói giảm nghèo

Cần xây dựng các chương trình phát triển bền vững, kết hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Điều này sẽ giúp người dân không chỉ thoát nghèo mà còn có cuộc sống tốt đẹp hơn.

5.2. Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong công tác xóa đói giảm nghèo

Khuyến khích sự tham gia của cộng đồng và các tổ chức xã hội trong công tác xóa đói giảm nghèo sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp, giúp nâng cao hiệu quả của các chương trình hỗ trợ.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueb nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo của tỉnh vĩnh phúc quản lý kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn đƣợc viết theo kết cấu gồm có 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về xoá đói giảm nghèo Chƣơng 2: Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2010 - 2013. Chƣơng 3: Mục tiêu và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh Vĩnh Phúc, giai đoạn 2014 - 2015. 7 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Khái niệm đói nghèo và các tiêu chí đánh giá đói nghèo 1.

Một số khái niệm Nghèo đói là một vấn đề mà cả cộng đồng thế giới quan tâm, song hiểu thế nào là đói, nghèo lại là vấn đề phức tạp, phụ thuộc vào các cách tiếp cận khác nhau. Gần đây, tổ chức UNDP đƣa ra các tiêu chí: tuổi thọ, tình trạng phát triển, thu nhập để đánh giá tình trạng đói, nghèo. Nhƣng quan niệm chung nhất về đói, nghèo đƣợc Hội nghị bàn về đói, nghèo do Uỷ ban kinh tế - xã hội khu vực Châu Á Thái Bình Dƣơng tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 thống nhất nhƣ sau: Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con ngƣời đã đƣợc xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán các địa phƣơng. Gần đây Liên Hợp Quốc đƣa ra hai khái niệm nghèo đói nhƣ sau: Nghèo tuyệt đối: Là một bộ phận dân cƣ không đƣợc hƣởng những nhu cầu tối thiểu cơ bản cho cuộc sống.

Nhu cầu đó bao gồm: ăn, mặc, ở, đi lại, học hành, chữa bệnh. Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cƣ có mức sống dƣới mức trung bình của cộng đồng. Nghèo tƣơng đối đƣợc xét trong tƣơng quan xã hội, phụ thuộc vào địa bàn dân cƣ đang sống. Vì vậy, mức sống của những ngƣời nghèo tƣơng đối sẽ khác nhau ở những địa điểm và thời gian khác nhau.

Nghèo tƣơng đối cũng biểu hiện sự bất bình đẳng trong phân phối và thu nhập. Các tiêu chí đánh giá đói nghèo Để đánh giá tình trạng đói nghèo, trên thế giới vẫn coi các chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc gia (GNP) bình quân đầu 8 ngƣời/năm là một trong những căn cứ cơ bản nhất xét về lƣợng giá trị thu nhập danh nghĩa để xếp loại giàu nghèo giữa các quốc gia. Theo cách tiếp cận này thì những nƣớc nghèo nhất thƣờng là các nƣớc có nền kinh tế kém phát triển hoặc đang phát triển, có GDP bình quân đầu ngƣời chỉ ở mức thấp dƣới 610 USD. Ngoài ra, trên thế giới còn sử dụng 7 tiêu chí tổng hợp trong đó có chỉ số phát triển con ngƣời (HDI).

Nếu xét theo cách tiếp cận này thì Việt Nam đƣợc xếp cao hơn trong bảng xếp hạng đánh giá sự phát triển của các quốc gia. Để đánh giá mức độ đói nghèo còn có khái niệm chuẩn mực đói nghèo để làm căn cứ xác định mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội hoặc xác định kế hoạch cho các chƣơng trình sự án xóa đói giảm nghèo bảo đảm công bằng xã hội. Nói chung quan niệm của nhiều nƣớc cho rằng, hộ nghèo có mức thu nhập dƣới 1/3 mức thu nhập trung bình của xã hội. Với quan điểm này hiện nay trên thế giới có khoảng 1,12 tỷ ngƣời (25%) đang sống trong tình trạng nghèo khó, tức là sống dƣới 420 USD ngƣời/năm hoặc là 35 USD/ngƣời/tháng mà ngân hàng thế giới đã ấn định.

Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Ngân hàng thế giới đƣa ra thƣớc đo nghèo đói nhƣ sau: - Các nƣớc công nghiệp phát triển: 14USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc Đông Á: 04USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc thuộc Mỹ Latinh và vùng Caribe: 02USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc đang phát triển: 01USD/ ngày/ ngƣời; - Các nƣớc nghèo và một số ngƣời đƣợc coi là đói nghèo: 0,5USD/ ngày/ ngƣời. 9 Tuy vậy các quốc gia đều đƣa ra chuẩn nghèo đói riêng của nƣớc mình và thƣờng thấp hơn chuẩn đói nghèo mà Ngân hàng thế giới khuyến nghị. Nƣớc Mỹ chuẩn đói nghèo là thu nhập dƣới 16.000USD đối với một bộ phận gia đình 4 ngƣời trong 1 năm, tƣơng ứng 11,1USD/ ngày/ ngƣời; Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 Nhân dân tệ/ năm/ ngƣời, tƣơng đƣơng 0,33USD/ ngày/ ngƣời.

Tóm lại, khi xem xét về khía cạnh đói nghèo của các quốc gia trên thế giới, ta có thể thống nhất ở một số điểm sau đây: - Xét hiện tƣợng đói nghèo trƣớc hết phải xem xét các lĩnh vực kinh tế, do đó phải chú ý đến dấu hiệu về mức sống thông qua các nhu cầu cơ bản tối thiểu về đời sống vật chất, xác định tiêu chí do hiện tƣợng đói nghèo phải dựa trên thu nhập bình quân tính theo đầu ngƣời/tháng theo hai khu vực nông thôn và thành thị, tiêu chí này liên hệ mật thiết với tiêu chí trên về chế độ dinh dƣỡng và năng lƣợng (kcalo)/ngƣời/ngày. - Cụ thể hóa thu nhập bằng cách lƣợng hóa quy ra hiện vật đƣợc tính bằng gạo/ngƣời/tháng. - Từ chỉ số thu nhập chia ra các khoản tiêu dùng phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu tối thiểu để xem xét đối tƣợng dân cƣ đói nghèo phải chi cho ăn chiếm tỷ lệ bao nhiêu trong tổng cơ cấu tiêu dùng của họ. Điều đó cho phép làm nổi bật thực trạng đói nghèo và độ chệnh lệch có tính chất vùng hoặc khu vực giữa các đối tƣợng khác nhau.

Ngoài ra cũng có thể dùng chỉ tiêu thu nhập quốc dân bình quân/ngƣời/năm (USD) để so sánh đánh giá mức độ giàu nghèo giữa các quốc gia. Vậy, có nhiều cách tiếp cận về đói nghèo, cho nên có nhiều cách lý giải về các quan niệm đói nghèo. Hơn nữa, chúng ta thấy đói nghèo là một phạm 10 trù lịch sử mang tính tƣơng đối. Do vậy, đói nghèo đƣợc biến đổi theo thời gian, không gian và sự vận động của nền kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia.

Với phƣơng pháp luận trên, căn cứ vào tình hình xã hội và hiện trạng đời sống của dân cƣ hiện nay, Việt Nam xác lập tiêu chí đánh giá đói nghèo theo các chỉ tiêu sau đây: Thu nhập, nhà ở, tiện nghi sinh hoạt, tƣ liệu sản xuất và vốn liếng để giành. Trong 4 chỉ tiêu đó cần đặc biệt chú ý chỉ tiêu thu nhập và nhà ở. Hai chỉ tiêu này phản ánh trực tiếp mức sống hàng ngày hay mức độ thực hiện các nhu cầu cơ bản tối thiểu của đời sống nhân dân. Các chỉ tiêu về tƣ liệu sản xuất và vốn liếng cũng có ý nghĩa không nhỏ và nó làm rõ tình cảnh của những ngƣời nghèo, hộ nghèo.

Thực tế cho thấy những hộ dân cƣ đã lâm vào hoàn cảnh đói nghèo thì tƣ liệu sản xuất ít và lạc hậu và hầu nhƣ không có vốn tích lũy cho sản xuất và tái sản xuất. Ngoài ra, còn các chỉ tiêu phụ nhƣ: dinh dƣỡng bữa ăn, các điều kiện học tập, chữa bệnh, đi lại. Ủy ban Dân tộc miền núi còn đƣa ra 5 tiêu chí xác định xã thuộc nhóm đặc biệt khó khăn gồm: địa bàn cƣ trú, yếu tố xã hội, điều kiện sản xuất, đời sống, hạ tầng cơ sở. Ở nƣớc ta, việc lấy chuẩn mực đói nghèo để xác định ranh giới đang còn nhiều ý kiến khác nhau.

Căn cứ vào thu nhập biểu hiện bằng tiền vẫn là tiêu chí cơ bản để phản ánh mức sống. Ngoài ra, còn sử dụng cả hình thức hiện vật hóa, phổ biến là quy ra gạo để loại bỏ yếu tố giá cả. Bộ Lao động - TB&XH đã xây dựng chuẩn mực xác định hộ đói nghèo qua các mốc thời gian cụ thể nhƣ sau: * Lần 1: vào năm 1993 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với thành thị) và 8 kg gạo (đối với nông thôn). 11 - Hộ nghèo: Thu nhập dƣới 20 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với thành thị) và dƣới 15 kg (đối với nông thôn).

* Lần 2: vào năm 1995 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg quy gạo/ngƣời/tháng (đối với mọi vùng). - Hộ nghèo, tính theo 3 vùng, cụ thể nhƣ sau: + Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 15 kg quy gạo/ngƣời/tháng. + Nông thôn, miền đồng bằng, trung du: Dƣới 20 kg quy gạo/ngƣời/tháng. + Thành thị: Dƣới 25 kg quy gạo/ngƣời/tháng.

* Lần 3: vào năm 1997 - Hộ đói: Thu nhập dƣới 13 kg gạo/ngƣời/tháng tƣơng đƣơng với 45. - Hộ nghèo theo 3 vùng nhƣ sau: + Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 15 kg gạo/ngƣời/tháng ( bằng 55. + Nông thôn, đồng bằng, trung du: Dƣới 20 kg gạo/ngƣời/tháng ( bằng 70. + Thành thị: Dƣới 25 kg gạo/ngƣời/tháng (bằng 90.

* Lần 4: giai đoạn 2001 - 2005 , hộ nghèo theo 3 vùng nhƣ sau: [ 11. - Nông thôn, miền núi, hải đảo: Dƣới 80.000đ/ngƣời/tháng, (960. - Nông thôn, đồng bằng, trung du: Dƣới 100.000đ/ngƣời/tháng (1.000đ/ngƣời/năm) đ đ - Thành thị: Dƣới 150.000 /ngƣời/tháng (1.000 /ngƣời/năm) * Lần 5: giai đoạn 2006 - 2010. 12 Năm 2005, Thủ tƣớng đã ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 về việc xác định chuẩn mực đói nghèo mới giai đoạn 2006 - 2010 là: - Khu vực thành thị là 260.000 đồng/ ngƣời/tháng.

- Khu vực nông thôn là 200.000 đồng/ngƣời/tháng. * Lần 6: giai đoạn 2011 - 2015 Năm 2011, Thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011 về việc xác định chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo giai đoạn 2011 - 2015 là: [ 13. - Khu vực thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/ ngƣời/tháng trở xuống. - Khu vực nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống.

- Hộ cận nghèo thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ ngƣời/tháng trở xuống. - Hộ cận nghèo nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ngƣời/tháng trở xuống. Theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 - 2015 đƣợc xác định theo phƣơng pháp dựa trên nhu cầu chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực, thực phẩm. Phần chi cho lƣơng thực, thực phẩm bảo đảm năng lƣợng hàng ngày cho một ngƣời là 2100 kcalo, chiếm khoảng 60% tổng chi tiêu; phần chi cho lƣơng thực, thực phẩm (mặc, nhà ở, y tế, giáo dục, văn hoá, đi lại, giao tiếp xã hội) chiếm khoảng 40%.

Tổng chi tiêu cho lƣơng thực, thực phẩm và phi lƣơng thực thực phẩm quy ra tiền gọi là chuẩn nghèo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ