CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TUYỂN DỤNG NHÂN LỰC TRONG MỘT DOANH NGHIỆP 1. Nhân lực Theo nghĩa hẹp, nhân lực được hiểu là toàn bộ các khả năng về thể lực và trí lực của con người được vận dụng vào trong quá trình sản xuất. Nó cũng được xem là sức lao động của con người- một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố sản xuất của doanh nghiệp. Theo nghĩa rộng, nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp.
Bất cứ tổ chức nào cũng được hình thành bởi các thành viên là con người hay nguồn nhân lực của tổ chức đó. Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm các cá nhân có vị trí và vai trò khác nhau và có mối quan hệ ràng buộc hỗ trợ cho nhau, cùng hướng tới mục tiêu của tổ chức. Tuyển dụng Khi bàn về vấn đề tuyển dụng rất ít tác giả đưa ra khái niệm chung cho từ “tuyển dụng”, mặc dù trên thực tế từ này được sử dụng rất nhiều và phổ biến. Các tác giả thường tách khái niệm này thành hai khái niệm nhỏ là “ tuyển mộ” và “ tuyển chọn”, tuy nhiên hoạt động tuyển dụng còn cần thêm yếu tố định hướng hội nhập nhân viên mới.
Vậy chúng ta có thể hiểu hoạt động tuyển dụng như sau: Tuyển dụng là quá trình tìm kiếm, thu hút những ứng cử viên từ những nguồn khác nhau (trong và ngoài tổ chức) tham gia dự tuyển và lựa chọn trong số họ những người phù hợp nhất với yêu cầu công việc đặt ra, sắp xếp đúng người đúng việc, giúp đỡ họ làm quen với doanh nghiệp và công việc mới, nhằm bổ sung lực lượng lao động cần thiết để thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp. Luận văn Thạc sĩ Vũ Thu Phương 7 Như vậy theo khái niệm này, tuyển dụng gồm ba quá trình: Tuyển mộ, tuyển chọn và định hướng hội nhập doanh nghiệp cho nhân viên mới. Tuyển mộ Tuyển mộ nhân lực là quá trình thu hút những người xin việc có trình độ từ lực lượng lao động bên ngoài và bên trong tổ chức để lựa chọn lao động cho các vị trí làm việc còn trống của tổ chức. Tuyển chọn Quá trình tuyển chọn nhân lực là việc lựa chọn ứng viên cho các vị trí làm việc trống của tổ chức nhằm đáp ứng yêu cầu đặt ra của tổ chức đó cho các chức danh công việc cần tuyển dụng.
Định hướng hội nhập Định hướng hội nhập cho nhân viên mới là một chương trình được thiết kế nhằm giúp người lao động mới có thể làm quen và nhanh chóng hòa nhập với công việc mới, nơi làm việc mới, giúp cho công việc có thể đạt được hiệu suất cao một cách sớm nhất. Một số khái niệm liên quan sử dụng trong luận văn: - Lãnh đạo: Bao gồm các nhà lãnh đạo cấp cao như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc, Phó Giám đốc Công ty. - Cán bộ quản lý:Bao gồm các giám đốc, phó giám đốc các xí nghiệp, trưởng/phó các phòng/ban, đơn vị trực thuộc Công ty. - Cán bộ văn phòng: Bao gồm các nhân viên văn phòng, các nhân viên gián tiếp tại các xí nghiệp.
- Công nhân kỹ thuật: Bao gồm công nhân trực tiếp sản xuất có trình độ chuyên môn kỹ thuật qua đào tạo từ trung cấp kỹ thuật trở lên. - Công nhân lao động phổ thông:Bao gồm công nhân trực tiếp sản xuất không qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật như công nhân bốc vác, công nhân rửa chai. Luận văn Thạc sĩ Vũ Thu Phương 8 1. Các yếu tố tác động đến tuyển dụng nhân lực của doanh nghiệp 1.
Yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực quốc gia Chính sách phát triển nguồn nhân lực Quốc gia được nêu rõ tại Quyết định Số 579/QĐ-TTg do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 19/4/2011 Phê duyệt Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011- 2020 rằng: “Mục tiêu tổng quát phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2012 là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên Thế Giới.” Trong quyết định này, Thủ tướng cũng nêu rõ các giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn 2011- 2020, nhằm nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực Quốc gia. Điều này sẽ mang lại nhiều thuận lợi cũng như thách thức hơn cho công tác nhân sự nói chung và hoạt động tuyển dụng nhân lực trong các tổ chức, doanh nghiệp nói riêng. Trình độ dân trí cũng như chuyên môn nghiệp vụ được cải thiện, tăng cường đào tạo, mở thêm cơ sở đào tạo, trường học, liên kết nước ngoài từ đào tạo nghề đến đào tạo cấp bậc cao đẳng, đại học… điều này giúp đảm bảo yêu cầu chất lượng nhân lực trong thời kì kinh tế phát triển, đất nước đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa như hiện nay.
Bên cạnh đó, vấn đề tăng cường thể lực, sức khỏe toàn dân cũng được đề cập đến nhằm tăng sức lao động, khả năng lao động mang lại năng suất lao động cao. Tất cả những vấn đề đó sẽ giúp cho hoạt động tuyển dụng gặp thuận lợi hơn trong việc tuyển mộ, tuyển chọn được nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng lao Luận văn Thạc sĩ Vũ Thu Phương 9 động cao, có chuyên môn đào tạo bài bản, đem lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng có những khó khăn lớn đòi hỏi tổ chức doanh nghiệp cần đầu tư và hoàn thiện hơn trong hoạt động tuyển dụng. Khi lao động qua đào tạo tăng, cũng đồng nghĩa với việc lao động phổ thông sẽ khó tuyển dụng được hơn trước kia.
Bên cạnh đó, sự cạnh tranh lao động trên thị trường lao động sẽ ngày càng khó khăn hơn trước, muốn thu hút, tuyển mộ được nhiều ứng viên giỏi, xuất sắc tham gia ứng tuyển đỏi hỏi tổ chức, doanh nghiệp phải có những chính sách, chiến lược nhân sự thật sự quy mô, bộ máy làm công tác tuyển dụng nhân lực phải có trình độ, chuyên môn và kinh nghiệm cao mới có thể đảm nhận được hoạt động tuyển dụng một cách công bằng, khách quan, nhạy bén và đánh giá được hết năng lực của ứng viên. Quá trình tuyển dụng cũng cần phải được xây dựng một cách chuyên nghiệp, khoa học, sao cho có thể tạo sân cho các ứng viên thể hiện được rõ ràng khả năng cũng như năng lực lao động của bản thân, nhưng vẫn phải đảm bảo tiết kiệm được chi phí, nhân lực và thời gian trong khuôn khổ cho phép phù hợp với tổ chức, doanh nghiệp. Các điều kiện về thị trường lao động Công tác tuyển dụng phụ thuộc rất lớn vào mối quan hệ cung cầu trên thị trường lao động. Khi cung lớn hơn cầu thì cùng một công việc sẽ có nhiều người nộp đơn xin việc, lúc này nhà quản lý sẽ có nhiều cơ hội lựa chọn được những ứng viên sáng giá nhất cho công việc.
Ngược lại, khi cung nhỏ hơn cầu thì chất lượng của công tác tuyển dụng sẽ thấp. Sự cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường Sự cạnh tranh lao động của các tổ chức khác đôi khi cản trở việc tuyển dụng những nhân viên giỏi của tổ chức, tạo nên sự chia sẻ thị trường tuyển dụng. Luận văn Thạc sĩ Vũ Thu Phương 10 Bất kỳ tổ chức nào cũng muốn có một đội ngũ lao động đáp ứng cả về số lượng và chất lượng. Vì vậy, họ luôn cố gắng tìm mọi biện pháp để có thể tuyển dụng được những người lao động giỏi.
Điều này phụ thuộc vào sức mạnh trong sức cạnh tranh của tổ chức. Tổ chức càng có sức cạnh tranh lớn thì càng có uy tín trên thị trường, càng thu hút được nhiều ứng viên và hiệu quả công tác tuyển dụng càng lớn. Các xu hướng kinh tế Các xu hướng kinh tế cũng có tác động ảnh hưởng khá lớn tới hoạt động tuyển dụng của các tổ chức. Xu hướng biến động của nền kinh tế.
Nền kinh tế tăng trưởng hay suy thoái cũng tác động trực tiếp đến hoạt động tuyển dụng của các doanh nghiệp tổ chức. Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ xảy ra cuộc chiến tranh giành lao động ở mọi cấp độ, do các tổ chức, doanh nghiệp cũ sẽ có xu hướng mở rộng kinh doanh, sản xuất, chưa kể bên cạnh đó cũng sẽ xuất hiện nhiều các tổ chức, doanh nghiệp mới được xây dựng nên.Khi đó thách thức đặt ra cho mỗi tổ chức, doanh nghiệp là làm sao để có thể thu hút được nguồn lao động về với doanh nghiệp và tổ chức của mình, và làm như thế nào để họ gắn bó lâu dài với tổ chức doanh nghiệp của mình. Ngược lại khi nền kinh tế bị suy thoái, các tổ chức, doanh nghiệp sẽ có xu hướng thu hẹp kinh doanh và sản xuất, và cũng sẽ xảy ra hiện tượng nhiều doanh nghiệp không đủ mạnh sẽ bị phá sản, tạo ra một tỷ lệ lớn lao động thất nghiệp. Khi đó các tổ chức doanh nghiệp không khó khăn trong việc có thể tuyển mộ được lượng lao động lớn, và có nhiều sự lựa chọn hơn trong hoạt động tuyển dụng.
Tuy nhiên, lượng lao động thu hút được một là, nguồn lao động chưa có kinh nghiệm làm việc gặp thời khủng hoảng kinh tế khó xin việc; hai là, nguồn lao động bị xa thải tại các tổ chức, doanh nghiệp đang thu hẹp kinh doanh sản xuất; ngoài ra cũng có những lao động khác như tự xin nghỉ việc vì doanh nghiệp cũ không đáp Luận văn Thạc sĩ Vũ Thu Phương 11 ứng được nhu cầu của họ hay những lí do riêng khác nhau… Khi đó thách thức đặt ra cho các nhà tuyển dụng là phải có trình độ chuyên môn, và kinh nghiệm làm việc dày dặn mới có thể sàng lọc và tìm ra được những lao động cần thiết, có năng lực và phù hợp với tổ chức, doanh nghiệp từ nguồn lao động dồi dào thu hút được. Xu hướng nghành nghề của nền kinh tế.Do tác động của khoa học và công nghệ với cường độ lớn hơn và trình độ cao hơn làm thay đổi cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ mạnh mẽ hơn, sâu sắc hơn. Các ngành công nghiệp “ cổ điển” giảm dần tỉ trọng và vai trò của nó trở nên kém dần. Các ngành có hàm lượng khoa học và công nghệ tăng nhanh, đặc biệt là các ngành dịch vụ kỹ thuật phục vụ sản xuất.