CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYỂN DỤNG CÔNG CHỨC PHƯỜNG 1. Các khái niệm về công chức phường và tuyển dụng công chức phường 1. Khái niệm về công chức phường 1.
Khái niệm về công chức Công chức là một thuật ngữ quen thuộc không chỉ ở Việt Nam mà còn ở các nước trên thế giới. Đa số các nước giới hạn thuật ngữ công chức trong phạm vi là những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước. Ở Trung Quốc là một cường quốc kinh tế trên thế giới, một đất nước có dân số đông nhất thế giới, với nhiều dân tộc và đa dạng về văn hóa. Trong quan niệm về công chức tại Trung Quốc có những thay đổi nhất định.
Đã có thời kỳ Trung Quốc áp dụng một cơ chế quản lý đối với người được gọi là “cán bộ” không phân biệt người đó làm ở vị trí nào, công tác trong lĩnh vực nào: chính trị, kinh tế hay hành chính. Cho đến năm 1989, tại Đại hội Đảng lần thứ 13 đã quyết định xây dựng một chế độ công chức nhà nước kiểu mới ở Trung Quốc và bản “Điều lệ tạm thời về công chức nhà nước” được công bố ngày 14 tháng 8 năm 1993 có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1993. Theo điều lệ này “công chức nhà nước là những nhân viên công tác trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, trừ nhân viên phục vụ”. Ở một nước châu Á khác là Nhật Bản, quan niệm về công chức có phạm vi khá rộng.
Phạm vi công chức nhà nước bao gồm “những nhân viên nhận chức trong bộ máy các Bộ của Chính phủ trung ương, nghành Tư pháp, Quốc hội, nhà trường và bệnh viện quốc lập, xí nghiệp và sự nghiệp quốc doanh, đồng thời được lĩnh tiền lương từ kho bạc Nhà nước. Phạm vị công chức địa phương gồm nhân viên công tác và lĩnh lương từ tài chính địa phương”. Hình ảnh các công chức Nhật Bản là một trong những biểu tượng nổi bật của đất nước này kể từ thời hậu chiến. Công chức Nhật Bản có tác phong làm việc tập trung và thái độ là việc vô cùng nghiêm túc tạo hiệu quả, hiệu suất cao khiến cho họ được đề cao so với thế giới.
Đặc biệt là khi họ được tuyển dụng là công 9 chức thì họ có ý thức trở nên mẫn cán, sống động và sẵn sàng đảm nhận nhiệm vụ được giao. Giữa 2 quan điểm của Trung Quốc và Nhật Bản ta thấy có những điểm tương đồng về khái niệm công chức. Quan niệm về công chức ở các quốc gia có sự khác biệt về phạm vi công chức cũng như nội hàm và địa vị pháp lý do có đặc điểm văn hóa, kinh tế-xã hội, dân tộc,. song cũng có nét tương đồng như: công chức được quan niệm là người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc tại cơ quan Nhà nước thường xuyên, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước,.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và nhiều lần thay đổi qua các thời kỳ khác nhau, và được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật như: Sắc lệnh 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Quy chế công chức của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nghị định 169/HĐBT ngày 25 tháng 5 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi bổ sung năm 2003), Nghị định 117/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính. Hiện nay văn bản đang có hiệu lực thi hành đó là Luật Cán bộ, công chức năm 2008. Luật Cán bộ, công chức 2008 ra đời là bước tiến mới trong việc xây dựng và hoàn thiện chế độ công vụ ở Việt Nam. Khái niệm công chức ở Việt Nam: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan thuộc đơn vị Quân đội nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, 10 quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật (khoản 2 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008)”.
Khái niệm công chức phường Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam sửa đổi năm 2017, các đơn vị hành chính được chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh, thành phố; xã, phường, thị trấn thuộc huyện, quận, thành phố. Cấp xã, phường, thị trấn được coi là cấp cơ sở, là cấp cuối cùng của hệ thống chính trị; là nơi mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được trực tiếp đưa vào cuộc sống; đồng thời kiểm nghiệm sự đúng đắn, hiệu quả của các chủ trương, chính sách đó, từ đó có những sửa đổi, điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp; là nơi trực tiếp tiếp xúc, giải quyết những yêu cầu hàng ngày của tổ chức, cá nhân; do vậy, bộ máy chính quyền cấp cơ sở đóng vai trò hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, quyết định sự thành công của sự nghiệp cách mạng nước ta, là nền tảng của hệ thống chính trị, là bộ mặt của Nhà nước, thông qua hiệu quả hoạt động của nó để người dân đánh giá về vai trò lãnh đạo của Đảng và chất lượng hoạt động của Nhà nước, các cơ quan đoàn thể chính trị - xã hội. Khái niệm công chức được sử dụng trong các văn bản quy phạm pháp luật thay đổi theo từng thời kỳ tùy thuộc vào quan điểm của Nhà nước về đội ngũ công chức. Ở nước ta trước khi có Luật Cán bộ, công chức năm 2008, khái niệm công chức chưa được quy định rõ ràng, và thường sử dụng thuật ngữ chung là cán bộ, công chức.
Thực tế ở Việt Nam đội ngũ cán bộ, công chức có tính liên thông, theo yêu cầu nhiệm vụ có thể điều động, luân chuyển cán bộ, công chức giữa các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội; do vậy xác định rõ khái niệm “cán bộ”, “công chức” là rất phức tạp. Theo Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 thì cán bộ, công chức được quy định: là công dân Việt Nam, hưởng lương từ 11 ngân sách Nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp. Những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, tỉnh, huyện, xã; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội ở trung ương, tỉnh, huyện, xã; những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong đơn vị sự nghiệp của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội; thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân. Trước yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng của hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX xác định: Đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị ở cơ sở có cán bộ chuyên trách và cán bộ không chuyên trách.
Cán bộ chuyên trách là những cán bộ phải dành phần lớn thời gian lao động làm việc công để thực hiện chức trách được giao, bao gồm: Cán bộ giữ chức vụ qua bầu cử và cán bộ chuyên môn được Ủy ban nhân dân (sau đây gọi tắt là UBND) tuyển chọn; đội ngũ này có chế độ làm việc và được hưởng chính sách về cơ bản như cán bộ, công chức nhà nước. Cán bộ, công chức cơ sở có đủ điều kiện được thi tuyển vào ngạch công chức ở cấp trên. Theo Điều 1, Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ “về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn” thì công chức phường được quy định là những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ trong ủy ban nhân dân phường có: Trưởng Ban công an (nơi chưa bố trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Theo Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008, cán bộ và công chức là: công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước (công chức lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì tiền lương được bảo 12 đảm từ quỹ lương của đơn vị), giữ một công vụ thường xuyên, làm việc trong công sở, được phân định theo cấp hành chính (cán bộ, công chức ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã).
Điểm khác phân biệt giữa cán bộ và công chức là theo nguồn gốc hình thành và có những quy định điều chỉnh cụ thể theo những tiêu chí nhất định (ví dụ như: Đánh giá cán bộ theo 5 nội dung gắn với năng lực lãnh đạo; điều hành; tổ chức thực hiện nhiệm vụ, tinh thần, trách nhiệm công tác; kết quả thực hiện nhiệm vụ. Công chức được đánh giá theo 6 nội dung gắn với năng lực, trình độ chuyên môn, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, tinh thần trách nhiệm và phối hợp thực hiện nhiệm vụ, thái độ phục vụ nhân dân. Cán bộ có 4 hình thức kỷ luật, công chức 6 hình thức kỷ luật…). Đối với công chức phường, Luật Cán bộ, công chức 2008 đã cụ thể hóa, phân biệt rõ các chức danh cán bộ với công chức, nhất là đối với cấp xã, theo đó công chức cấp xã là: - Công dân Việt Nam; - Được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND xã, phường, thị trấn; - Trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Tuy nhiên, căn cứ vào tính chất của phường là đô thị, tập trung hoạt động của các thành phần kinh tế, mật độ dân cư.