Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI VÀ HIỆU QUẢ THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1. Cơ sở lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài Một trong nhiều yếu tố quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia là nguồn vốn đầu tư.
Các nguồn vốn đầu tư nội địa không thể đảm bảo yêu cầu về vốn trong quá trình phát triển kinh tế. Đối với các quốc gia đang phát triển, vốn đầu tư nước ngoài có thể tạo ra những hướng đi hiệu quả cho doanh nghiệp. Vì vậy, đây là mục tiêu mà nhiều đất nước đang hướng đến để mở rộng phạm vi đầu tư cho các nhà đầu tư quốc tế, cũng như tạo ra cơ hội cho các doanh nghiệp trong nước. Hiện nay, có các khái niệm về FDI như sau: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF,2009), FDI là hình thức đầu tư xuyên quốc gia theo đó nhà đầu tư là người cư trú của nền kinh tế này sẽ có quyền kiểm soát hoặc có một mức độ ảnh hưởng nhất định trong hoạt động quản trị của doanh nghiệp là người cư trú của nền kinh tế khác.
Đặc điểm trung để phân biệt hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài với hoạt động đầu tư khác, đó là quyền quản lý, quyền kiểm soát doanh nghiệp. Ngưỡng đầu tư mang lại quyền tham gia đồng quản lý doanh nghiệp cho nhà đầu tư theo IMF là từ 10% vốn cổ phần, và đối với quyền kiểm soát là từ 50% trở lên. Theo tổ chức thương mại thế giới (WTO): Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty.” Theo luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của luật này. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, theo luật đầu tư năm 2020 của Việt Nam: không còn phân biệt hình thức đầu tư quốc tế trực tiếp và gián tiếp nữa.
Luật đầu tư 2020 sử dụng khái niệm đầu tư kinh doanh để thay thế cho khái niệm cũ. Vậy hoạt động Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh. Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài là thành viên hoặc cổ đông.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu FDI là sự di chuyển vốn từ nhà đầu tư nước ngoài có thể là cá nhân, công ty, được đưa vào một nước khác để thiết lập cơ sở sản xuất, chi nhánh và làm chủ từng phần hay toàn phần cơ sở đó. Chủ đầu tư nước ngoài tận dụng các ưu thế về vốn, trình độ công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đội ngũ lao động,. nhằm mục đích thu lại lợi ích lâu dài qua việc triển khai hoạt động kinh doanh ở nước ngoài. Bản chất và đặc điểm của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 1.
Về bản chất Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự giao thoa về nhu cầu của một bên là các nhà đầu tư và một bên là nước tiếp nhận đầu tư. Vì vậy bản chất của FDI là sự gặp gỡ cung và cầu của cá nhân hay tổ chức có nhu cầu đầu tư và đất nước muốn tiếp nhận nguồn đầu tư. Điều đó có thể giải thích được lý do vì sao có hình thức đầu tư FDI. Về đặc điểm của FDI Về mặt quản lý: các nhà đầu tư nước ngoài phải đóng một số vốn tối thiểu vào vốn pháp được quy định phụ thuộc vào từng quốc gia.
Vốn pháp định trong dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn có của chủ đầu tư được quy định theo luật đầu tư. Khi góp vốn hợp lệ, các nhà đầu tư được quyền tham gia quản lý và điều hành dự án đầu tư. Về mặt chuyên môn: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài không chỉ gắn liền với việc di chuyển vốn và còn gắn với việc chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm và kiến thức quản lý, tạo thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía tiếp nhận đầu tư. Đối với các ngành đòi hỏi trình độ khoa học, công nghệ cao, trung chuyến vốn nhanh và đem lại lợi nhuận lớn, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ ưu tiên đầu tư.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về mặt hoạt động: Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp mới, mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp để thôn tính hay sáp nhập doanh nghiệp. Các công ty xuyên quốc gia sử dụng hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài để thâm nhập và triển khai hoạt động kinh doanh một cách nhanh chóng. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ yếu Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn đầu tư nước ngoài: là hình thức đầu tư phổ biến đối với đầu tư FDI. Theo đó doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài, được nhà đầu tư nước ngoài được bỏ vốn thành lập tại Việt Nam và tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh.
Liên doanh: nhà đầu tư nước ngoài được liên doanh với nhà đầu tư trong nước để đầu tư thành lập công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh theo qui định của luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (gọi tắt là BCC): là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân. Hợp đồng xây dựng – kinh doanh – chuyển giao (gọi tắt là BOT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng, kinh doanh công trình kết cấu hạ tầng trong một thời hạn nhất định. Khi hết thời hạn, nhà đầu tư sẽ chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước Việt Nam.
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (gọi tắt là BTO) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong thì nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam, Chính phủ dành cho nhà đầu tư quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi lợi nhuận và vốn đầu tư. Hợp đồng xây dựng – chuyển giao (gọi tắt là BT) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đâu từ để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng xong thì nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước Việt Nam; Chính phủ tạo điều kiện cho nhà đầu tư thực hiện dự án khác để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận hoặc thanh toán cho nhà đầu tư cho thỏa thuận bằng hợp đồng BT. Vai trò của việc thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cho đến hiện nay tác động của vốn đầu tư FDI đến sự phát triển kinh tế và xã hội của tỉnh Lào Cai là điều không thể phủ nhận. Sau khi đất nước bắt đầu mở cửa để đón nhận 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những dự án đầu tư đầu tiên, các chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của tỉnh gia tăng đáng kể.
Tình hình việc làm, thu nhập, sức khỏe, giáo dục của mỗi công dân được cải thiện đã tạo ra sự thịnh vượng cho tỉnh. Tuy nhiên ngoài những tác động tích cực của FDI mang lại. Hình thức đầu tư cũng có những hạn chế, tiêu cực cần được giải quyết. Tác động tích cực: Tạo ra nguồn vốn bổ sung: Hầu hết các tỉnh, thành phố trước đây đều phụ thuộc vào nguồn vốn tài trợ quốc gia hoặc sử dụng dòng vốn hỗ trợ phát triển chính thức để đầu tư vào các dự án.
Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi quy mô nguồn vốn hỗ trợ phát triển bắt đầu thu hẹp. Các nhà đầu tư trực tiếp là giải pháp tiếp theo mà tỉnh cần hướng đến kêu gọi đầu tư. Do vậy các quy định, chính sách cần phải đáp ứng được nhu cầu tìm kiếm thị trường trên toàn cầu để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, mở rộng cơ hội cho các doanh nghiệp muốn tiếp nhận đầu tư. Cơ hội ngày càng mở rộng sẽ giúp các tỉnh sẽ tiếp cận được với nhiều nguồn vốn đầu tư hơn.
Đặt trong bối cảnh là tỉnh đang trong quá trình tái cơ cấu, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể giải quyết được những khó khăn về vốn cho quá trình công nghiệp hóa, thúc đẩy kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai. Trong thời kỳ đầu tiến hành công nghiệp hóa, các tỉnh đều gặp nhiều khó khăn như mức sống thấp, cơ sở hạ tầng chưa phát triển, công nghệ lạc hậu, mức đầu tư thấp nên kém hiệu quả, ít có điều kiện thâm nhập, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế, chưa có khả năng tiếp cận với khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Lúc này việc huy động vốn từ những nguồn lực bên ngoài là giải pháp hiệu quả nhất đối với bước đầu trên công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh Lào Cai. Khi thực hiện hỗ trợ góp vốn, các nhà đầu tư đã tạo một sự cam kết đóng góp của mình cho doanh nghiệp tiếp nhận đầu tư.
Chủ đầu tư khi ấy sẽ hỗ trợ cho các doanh nghiệp bằng nhiều cách với kinh nghiệp vốn có của mình.