PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Khái niệm thông tin liên lạc không còn xa lạ với mỗi chúng ta trong thời hiện đại. Từ thời xa xưa con người đã hình thành mối quan hệ với nhau nhờ các thông tin liên lạc, từ đó giúp con người trở nên gần gủi nhau hơn, đoàn kết hơn và trao đổi buôn bán giữa các vùng miền trên lãnh thổ nước Việt Nam nói riêng cũng như trên toàn thế giới nói chung. Sự liên lạc thời xa xưa bắt đầu bằng các âm thanh, tín hiệu và sau này là chữ viết.
Thời hiện đại con người liên lạc với nhau bằng công cụ dụng cụ hiện đại hơn, nhanh hơn, thông tin truyền đạt đầy đủ ý nghĩa hơn kịp thời nhanh chóng hơn. Chính sự liên lạc thông tin với nhau giúp cho xã hội của chúng ta ngày một phát triển hơn, từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát của Việt Nam triển theo cùng thế giới. Nhu cầu trao đổi thông tin ngày càng nhiều về số lượng và chất lượng, cùng các dịch vụ số ra đời, các trang mạng xã hội cũng như các thể thức trao đổi, giúp con người dễ dàng hiểu nhau hơn, gần gủi hơn trong cuộc sống. Với xu thế phát triển dịch vụ Viễn thông và Công nghệ thông tin của loài người ngày càng diễn ra mạnh mẽ, nhu cầu con người đòi hỏi ngày càng hiện đại hơn.
Đáp ứng theo nhu cầu xã hội và cũng là xu thế tất yếu của nhân loại, các nhà cung cấp dịch vụ Viễn thông và Công nghệ thông tin ở Việt Nam cùng với Viễn thông thế giới luôn nghiên cứu tìm tòi các giải pháp tốt nhất đáp ứng xu thế nhân loại. Tạo ra một kỹ nguyên số hóa, một kỹ nguyên thời đại công nghiệp 4.0, các thành tựu khoa học kỹ thuật được áp dụng vào đời sống hiện đại làm cho vạn vật trở nên hợp nhất. Con người trở nên thông minh hơn nhờ Công nghệ thông tin và trí tuệ nhận tạo đã tin học hóa quản lý các quy trình, hệ thống, các số liệu. Chỉ cần có Internet thì thế giới lúc nào cũng luôn bên chúng ta.
VNPT hiện nay là một Tập đoàn Viễn thông đứng đầu trên cả nước Việt Nam về các dịch vụ Viễn thông và Công nghệ thông tin và hướng ra các nước. Với mong muốn mang thế giới đến gần hơn, khách hàng được hạnh phúc hơn, nhu cầu trao đổi thông tin thuận tiện, an toàn, các dịch vụ đa dạng hóa, máy đo đến từng nhu cầu khách hàng cá 1 Luan van nhân, các khách hàng Doanh nghiệp và các tổ chức của cơ quan Đảng, Nhà nước. VNPT luôn luôn lắng nghe và đồng hành cùng khách hàng, mong muốn phục vụ khách hàng như phục vụ người thân trong gia đình. Chính vì xuất phát từ những tất yếu này mà VNPT đã mở ra rất nhiều hình thức thanh toán cước Viễn thông nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu cho khách hàng, để mỗi khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán cước Viễn thông phù hợp nhất cho mình.
Chính vì mở ra quá nhiều hình thức thanh toán cước Viễn thông, nên thời gian gần đây việc thất thoát cước Viễn thông là rất lớn. Mỗi năm VNPT mất hàng trăm tỷ đồng do nợ cước xấu. Riêng tại VNPT Đồng Tháp một tỉnh nhỏ của cả nước Việt Nam con số này gần chục tỷ đồng, trung bình mỗi tháng nợ cước xấu Viễn thông không thu hồi được từ 600 triệu đồng đến 800 triệu đồng. Hiện tại các quy trình quy định về thu cước Viễn thông rất rõ ràng nhưng chỉ giải quyết một phần nào đó trong việc thu cước Viễn thông tại VNPT Đồng Tháp.
Quy trình quy định này chỉ áp dụng cho lớp khách hàng nghiêm túc với việc thanh toán, còn lại một phần nhỏ các khách hàng nợ cước khó đòi mà VNPT Đồng Tháp đau đầu trong cách xử lý các năm vừa qua cũng như hiện tại và trong tương lai. Vậy làm sao để quản lý việc thu cước Viễn thông của Tập đoàn VNPT tốt trên địa bàn Đồng Tháp nói riêng và cả nước nói chung. Làm sao cho khách hàng thanh toán cước đầy đủ để VNPT không phải mất hàng chục tỷ đồng mỗi năm? Đó là bài toán vô cùng khó khăn trong giai đoạn như hiện nay và sắp tới khi số hóa và công nghệ mới 4. Đây cũng là vấn đề quan trọng của toàn Tập đoàn VNPT, của những người làm công tác thu cước.
Các cuộc họp liên quan đến vấn đề thu cước Viễn thông diễn ra nhưng không mang lại giá trị thật sự. Nguyên nhân chủ quan và khách quan, nhưng nhìn chung chúng ta đang thiếu một quy trình quản lý toàn diện cho việc thu cước Viễn thông đạt hiệu quả cao nhất. Chính vì lý do đó tôi chọn đề tài luận văn “Nâng cao hiệu quả công tác thu cước Viễn thông tại VNPT Đồng Tháp”. Qua đề tài để tìm giải pháp quản lý hiệu quả nhất cước Viễn thông, tránh thất thoát tài chính của VNPT Đồng Tháp, nếu thành công sẽ nhân rộng ra cho cả toàn Tập đoàn VNPT, giúp công tác thu cước tốt hơn, góp phần 2 Luan van mang lại thêm doanh thu và lợi nhuận hàng trăm tỷ đồng trong toàn Tập đoàn VNPT.
Giúp VNPT xây dựng một hệ thống quản lý cước Viễn thông chặt chẽ sao cho tiền cước thu về đầy đủ và khách hàng có sự hài lòng nhất về chất lượng phục vụ, đội ngủ nhân viên thu cước thì chuyên nghiệp và có thu nhập cao, ổn định, góp phần xây dựng Tập đoàn VNPT ngày một lớn mạnh và làm ăn hiệu quả trong tình hình thị trường Viễn thông nhiều biến động như hiện nay. Những nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tác giả Furkan Diskaya, Senol Emir và Nazife Orhan (2011) với nghiên cứu: “Đo lường hiệu quả kỹ thuật của lĩnh vực viễn thông trong cuộc khủng hoảng toàn cầu: So sánh giữa các nước G8 và Thổ Nhĩ Kỳ”. Trong những năm gần đây, đã có sự cạnh tranh gay gắt trong lĩnh vực viễn thông. Cạnh tranh về công nghệ đã làm cho sự cạnh tranh trong lĩnh vực này trở thành một loại chiến tranh chiến lược.
Các lĩnh vực có vai trò gia tăng về mặt phát triển kinh tế đã bước vào quá trình tái thiết với tốc độ bình đẳng ở tất cả các quốc gia. Trên thực tế, các quốc gia nắm bắt được tương lai của ngành cũng sẽ quyết định tương lai của nền kinh tế. Về mặt này, mục tiêu của nghiên cứu này là thực hiện đo điểm chuẩn hiệu suất bằng cách sử dụng Phân tích dữ liệu và Chỉ số năng suất tổng nhân tố Malmquist trên lĩnh vực viễn thông, được coi là một trong những dấu hiệu quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia trong môi trường khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Điểm chuẩn này, bao gồm giai đoạn khủng hoảng toàn cầu từ những năm 2007-2010, nhằm mục tiêu đo lường mức độ các quốc gia đã bị ảnh hưởng từ môi trường khủng hoảng toàn cầu thông qua đánh giá hiệu quả hoạt động giữa các cơ quan quản lý viễn thông mạnh nhất của các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ và Tập đoàn.
trong số Tám (G8) quốc gia? Trong nghiên cứu, các báo cáo hoạt động hàng năm của các cơ quan quản lý và một loạt các biến đầu vào và đầu ra thu được từ các cơ quan nghiên cứu khác nhau được sử dụng làm tập dữ liệu. Tác giả Rahul Venkatram, Xue Zhu (2012) với nghiên cứu: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng ngành viễn thông”. Ngành Viễn thông ngày nay là một yếu tố quan trọng thúc đẩy năng suất của các nền kinh tế và xã hội. Ngành Viễn thông 3 Luan van không chỉ là ngành đóng góp đáng kể vào hoạt động kinh tế của các quốc gia mà còn hướng tới sự phát triển của các ngành khác.
Trong thời gian gần đây, các quốc gia đang phát triển đã chứng kiến sự chuyển đổi đáng kể trong lĩnh vực này do tác động của nó đối với nền kinh tế của họ. Các nền kinh tế đang bùng nổ và mới nổi của Trung Quốc và Ấn Độ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi tốc độ phát triển nhanh chóng của ngành Viễn thông trong thập kỷ qua. Mục đích của nghiên cứu này là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến tăng trưởng ngành Viễn thông, bằng cách phân tích dữ liệu của cả ngành Viễn thông Trung Quốc và Ấn Độ. Trong báo cáo này, dữ liệu thu thập từ bảng câu hỏi, phỏng vấn, đánh giá tài liệu và báo cáo của các nhà phân tích được sử dụng để so sánh và thảo luận về sự đóng góp của các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến ngành Viễn thông.
Các phương pháp phân tích dữ liệu như Tính toán trung bình có trọng số, để phân tích dữ liệu bảng câu hỏi và Kiểm tra nhân quả Granger, để có thêm dữ liệu đồng liên quan từ bảng câu hỏi với số liệu doanh thu của ngành Viễn thông, được sử dụng. Các yếu tố như “Số lượng người đăng ký”, “Đổi mới công nghệ” và “Quy định và chính sách của Chính phủ” được coi là những yếu tố có ảnh hưởng và đóng góp lớn nhất đối với sự phát triển của ngành Viễn thông ở Trung Quốc và Ấn Độ. Phân tích dựa trên thống kê lịch sử cho thấy rằng, không có tác động trực tiếp đến doanh thu công nghiệp từ yếu tố “Số lượng người đăng ký”, không giống như yếu tố “Đổi mới công nghệ”. Ngoài ra, đóng góp của “Quy định và Chính sách của Chính phủ” như một yếu tố, dường như rõ ràng hơn đối với ngành Viễn thông Trung Quốc so với của Ấn Độ.
Tác giả Mohammad Abiad & Seifedine Kadry (2018) với đề tài: “Hiệu quả chi phí của Thiết bị Viễn thông- Đánh giá”. Thiết bị của mạng viễn thông đóng một vai trò quan trọng đối với Hiệu quả hoạt động và Hiệu suất Cung cấp Dịch vụ và Tính sẵn sàng. Thiết bị viễn thông là bất kỳ phần cứng nào được sử dụng cho mục đích viễn thông. Tháp viễn thông, thiết bị chuyển mạch và bộ định tuyến là một vài ví dụ về thiết bị viễn thông.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả chi phí của các thiết bị này như tiêu thụ năng lượng, chi phí làm mát, bật / tắt Trạm gốc để giảm tiêu thụ điện năng, sử 4 Luan van dụng hệ thống năng lượng lai và tích hợp công nghệ mới. Bài nghiên cứu này trình bày một đánh giá về hiệu quả chi phí của thiết bị viễn thông. Trong luận văn thạc sĩ “Đánh giá công tác thu cước các dịch vụ Viễn thông Viettel tại Hà Nội” chuyên ngành quản trị kinh doanh của Nguyễn Thị Hồng Nhung trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội năm 2016. Tác giả tiếp cận công tác thu cước theo hiệu quả quản lý.