CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng thương mại 1. Khái niêm và đặc điểm hoạt động thanh toán quốc tế 1. Khái niệm Kinh tế quốc tế không chỉ là một phần quan trọng của ngành kinh tế mỗi quốc gia mà còn là khía cạnh thiết yếu trong quan hệ đối ngoại.
Việc thực hiện các hoạt động, giao dịch kinh tế giữa các chủ thể ở các nước khác nhau dẫn đến nhu cầu thanh toán, chi trả nghĩa vụ liên quan đến tiền tệ. Chính từ đó là nguyên nhân hình thành và phát triển hoạt động thanh toán quốc tế (TTQT). Trong đó, sự tham gia của các ngân hàng thương mại như một cầu nối giữa các bên. Thanh toán quốc tế có thể được định nghĩa từ theo nhiều quan điểm khác nhau.
Nguyễn Văn Tiến trong cuốn giáo trình Thanh toán quốc tế và Tài trợ ngoại thương (2016), NXB Lao động: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan. Đây là một trong những khái niệm đầy đủ, dễ hiểu nhất. Geva trong cuốn Sổ tay về các thị trường tài chính toàn cầu, các định chế và cơ sở hạ tầng có viết: “Thanh toán quốc tế bao gồm các khoản thanh toán đi và đến bằng đơn vị tiền tệ ra và vào quốc gia đó, cũng như các khoản thanh toán ra nước ngoài bằng đơn vị tiền tệ đó, giữa hai chủ thể bên ngoài quốc gia.” Theo như các định nghĩa trên, hoạt động TTQT diễn ra trong lĩnh vực kinh tế và phi kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế, hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau.
Thêm vào đó, hoạt động TTQT được hình thành từ hoạt động ngoại thương và chủ yếu phục vụ cho hoạt động ngoại thương. Do vậy trong các quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, hoạt động TTQT được phân làm hai loại rõ ràng, đó là: 7 - Thanh toán phi ngoại thương: Là những hoạt động thanh toán không xuất phát từ các hợp đồng buôn bán hàng hóa, tức là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại. Ví dụ như việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại, ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân trong nước hay của các tổ chức nước ngoài cho các tổ chức, đoàn thể trong nước; các nguồn trợ cấp từ các tổ chức trong nước cho các tổ chức nước ngoài.… - Thanh toán trong ngoại thương: Là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hóa xuất nhập khẩu và các dịch vụ thương mại cung ứng cho nước ngoài theo giá cả thị trường.2 Đặc điểm Thứ nhất, Hoạt động TTQT diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các giao dịch, thương mại, đầu tư, hợp tác quốc tế thông qua mạng lưới ngân hàng thế giới. Do vậy, các bên tham gia TTQT ở hai nước có nền kinh tế, chính trị khác nhau.
Cho nên khi kí kết các hợp đồng thanh toán ngoại thương, hai bên phải thỏa thuận đồng tiền nước nào là đồng tiền tính toán và thanh toán trong hợp đồng để tránh xảy ra mâu thuẫn trong trao đổi, buôn bán hàng hóa. Thứ hai, TTQT là dịch vụ sinh lời được các NHTM cung cấp. Do vậy bản chất của hoạt động TTQT là nghiệp vụ ngân hàng quốc tế. Ngân hàng thu lợi thông qua việc thu phí cung cấp dịch vụ thanh toán, mua bán ngoại tệ…Đồng tiền thanh toán thường do hai bên trao đổi và thường là ngoại tệ tự do chuyển đổi.
Thứ ba, hoạt động TTQT đòi hỏi trình độ công nghệ tương xứng, phù hợp để giao dịch thuận tiện giữa các ngân hàng ở các nước khác nhau. Thứ tư, TTQT chịu sự ảnh hưởng của luật pháp quốc gia, các công ước quốc tế và tập quán thương mại do các chủ thể nằm ở quốc gia với nguồn luật điều chỉnh khác nhau. Do đó hai bên cần đàm phán và xác định nguồn luật điều chỉnh khi có tranh chấp xảy ra.2 Các văn bản pháp lí điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế Để điều chỉnh các quan hệ trong nước, mỗi quốc gia trên thế giới đều xây dựng cho mình một hệ thống pháp luật riêng phù hợp với chế độ chính trị, phong tục tập quán và trình độ phát triển ở quốc gia đó. Tuy nhiên, khi tham gia vào các hoạt động quốc tế, các quốc gia đều bình đẳng với nhau nên không thể sử dụng hệ thống pháp luật của nước này áp đặt cho nước khác.
Chính vì lẽ đó, một hệ thống quy tắc, chuẩn mực chung trong hoạt động thanh toán quốc tế đã được xây dựng và được các quốc gia trên thế giới thừa nhận nhằm giải quyết những tranh chấp, những khó khăn và trở ngại trong các hoạt động quốc tế giữa các quốc gia. Theo trình tự pháp lý giảm dần, hệ thống văn bản pháp lý điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế gồm có: 1.1 Các công ước quốc tế Công ước quốc tế là những văn bản ghi rõ những việc cần tuân theo và những điều cấm thi hành, liên quan đến một lĩnh vực nào đó do một nhóm nước thỏa thuận và cùng cam kết thực hiện nhằm tạo ra tiếng nói chung, sự thống nhất về hành động và sự hợp tác trong các nước thành viên. Công ước quốc tế có hiệu lực với các nước thành viên nhưng cũng được các quốc gia khác tham gia thực hiện nhằm bảo đảm tính thống nhất trong các hoạt động quốc tế. Trong hoạt động TTQT, một số công ước quốc tế phổ biến được các quốc gia sử dụng trong các giao dịch ngoại thương gồm có: - Công ước Liên hợp quốc về hợp đồng mua bản quốc tế (United nations convention on contracts for the international sale of goods - Vien convention - 1980): Công ước Viên gồm 101 điều, được chia làm 4 phần, quy định rõ những nguyên tắc trong xác lập hợp đồng mua bán hàng hóa, các hoạt động về giao nhận hàng hóa, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia, các biện pháp áp dụng cụ thể khi một bên vi phạm hợp đồng, giải quyết các tranh chấp.
- Công ước Geneve 1930 về Luật thống nhất về hối phiếu - ULB 1930: Công ước có hiệu lực tại tất cả các nước châu Âu (trừ Anh) quy định về nội dung của hối phiếu, các hoạt động liên quan đến hối phiếu như: chấp nhận hối phiếu, thanh toán 9 hối phiếu, kí hậu hối phiếu. Mặc dù có nhiều nước không tham gia Công ước này nhưng vẫn xây dựng Luật hối phiếu của họ tương thích với ULB 1930, càng làm cho tinh hiệu lực quốc tế của ULB ngày càng được thừa nhận. - Công ước Liên hợp quốc về hối phiếu và kì phiếu (International Bill of Exchange and International Promissory note - UN convention 1980): Công ước này áp dụng cho hối phiếu và kỉ phiếu quốc tế, quy định các nội dung liên quan đến hối phiếu và kỉ phiếu; trách nhiệm và quyền hạn của các bên liên quan đến; các hoạt động liên quan đến hối phiếu, kỉ phiếu. Công ước không giải quyết vấn đề hình phạt do Luật quốc gia đặt ra trong trường hợp có sự diễn đạt sai khác không đúng trên phương tiện về một địa điểm được đề cập trong công ước.
- Công ước Geneve 1931 về Séc quốc tế (Geneve convention for Check - 1931): Quy định những hoạt động trong việc phát hành và thanh toán séc. Công ước Geneve về Séc quốc tế không được Anh và Mỹ tham gia, thêm vào đó, các nước tham gia có “quyền bao lưu" theo cách riêng nên làm cho tính thống nhất quốc tế trở nên không cao. Các nguồn luật quốc gia. Bên cạnh việc tuân thủ các công ước quốc tế trong hoạt động thanh toán quốc tế, mỗi quốc gia cũng xây dựng cho mình một hệ thống luật quốc gia để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế sao cho phù hợp với điều kiện của nước mình.
Tại Việt Nam, các bộ luật quy định hoạt động TTQT gồm: - Bộ luật Dân sự. Bộ luật này được thông qua vào ngày 28/10/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2006. Bộ luật này có các điều khoản điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất hàng hóa - tiền tệ cơ sở bình đẳng, độc lập của các chủ thể khi tham gia vào các quan hệ đó và có hiệu lực pháp lý trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. - Luật thương mại: Bộ luật này được thông qua vào ngày 14/6/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2006.
Bộ luật bao gồm các quy định điều chỉnh các hoạt động thương mại diễn ra trong hoặc ngoài lãnh thổ Việt Nam và được áp dụng đối với các tổ chức, cá nhân tham gia vào hoạt động thương mại. 10 Luật các công cụ chuyển nhượng: Bộ luật được thông qua vào ngày 29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2006. Bộ luật điều chỉnh các quan hệ công cụ chuyển nhượng trong việc phát hành, chấp nhận, bảo lãnh, chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu, thanh toán, truy đòi, khởi kiện. Công cụ chuyển nhượng quy định trong Luật gồm có: Hối phiếu, kỳ phiếu, séc.
- Pháp lệnh ngoại hối: Được thông qua vào ngày 13/12/2005 và có hiệu lực từ ngày 1/6/2006, điều chỉnh các hoạt động như giao dịch vốn, hoạt động đầu tư ra nước ngoài, cho vay nước ngoài, hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác. trên lãnh thổ Việt Nam. Một số thông lệ và tập quán quốc tế Thông lệ và tập quán quốc tế là những văn bản quy phạm pháp luật tùy ý. Chúng chỉ có hiệu lực và có tính chất bắt buộc thực hiện khi trong hợp đồng có dẫn chiếu áp dụng rõ ràng.
Khi kí kết hợp đồng, các bên tham gia có thể loại trừ, bổ sung hay sửa đổi các điều khoản của thông lệ và tập quán quốc tế. Một số thông lệ và tập quán quốc tế được sử dụng phổ biến trong các hợp đồng ngoại thương gồm có: -Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP): Do phóng Thương mại quốc tế ban hành năm 1933, sau đó được sửa đổi nhiều lần để phù hợp với điều kiện buôn bán và thanh toán quốc tế.