Chương 1 công ước UNIDROIT 1988, factoring có các chức năng sau: - Quản lý sổ sách kế toán bán hàng - Dịch vụ thu nợ - Tài trợ ngắn hạn - Dịch vụ tư vấn - Dịch vụ bảo hiểm rủi ro 1. Phân loại nghiệp vụ factoring Dựa vào các tiêu chí khác nhau Factoring được chia thành : a. Theo phạm vi áp dụng Factoring với số lượng các hóa đơn bán hàng - Factoring toàn bộ: là dịch vụ factoring áp dụng đối với toàn bộ các hóa đơn thương mại phát hành ra của một người bán hàng - Factoring một phần: là dịch vụ factoringáp dụng đối với một số hóa đơn phát hành của người bán hàng đòi tiền một hoặc một số người mua hàng. Theo chức năng của factoring 5 [11] Các quy tắc chung cho hoạt động bao thanh toán quốc tế (GRIF) 6/2004, Điều 1 10 - Chiết khấu hóa đơn: là dịch vụ factoring chỉ cung cấp chức năng tài trợ (tạm ứng) mà không cung cấp các chức năng còn lại.
Người bán hàng tự theo dõi sổ sách bán hàng, thu nợ từ người mua và chuyển tiền thanh toán cho đơn vị factoring. - Factoring đến hạn: là dịch vụ factoring cung cấp tất cả các chức năng của factoring trừ chức năng tài trợ. - Factoring thu hộ: là dịch vụ factoring chỉ cung cấp chức năng thu hộ các khoản phải thu phát sinh trong một khoảng thời gian nhất định. Trước ngày đơn vị factoring đồng ý cung cấp dịch vụ, trách nhiệm theo dõi sổ sách và thu nợ thuộc về người bán.
Đơn vị factoring chỉ thu hộ tất cả các khoản phải thu hiện có tại thời điểm đồng ý cung cấp dịch vụ và sẽ không thu những khoản phải thu phát sinh sau thời điểm đó. - Factoring đầy đủ: là dịch vụ factoring cung cấp đầy đủ tất cả các chức năng chủ yếu của dịch vụ factoring c. Theo phạm vi trách nhiệm đối với rủi ro - Factoring có truy đòi: là dịch vụ factoring cung cấp tất cả các chức năng factoring toán trừ chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng. Nếu các khoản phải thu đến hạn mà đơn vị factoring vẫn không thu hồi được từ người mua thì đơn vị factoring có quyền truy đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán.
- Factoring miễn truy đòi: là dịch vụ factoring cung cấp chức năng bảo hiểm rủi ro tín dụng. Đơn vị factoring không có quyền đòi lại số tiền đã ứng trước cho người bán và phải thanh toán 100% giá trị hóa đơn. Theo phạm vi hoạt động địa lý - Factoring nội địa: là dịch vụ factoring được sử dụng trong trường hợp người bán và người mua ở cùng một quốc gia. - Factoring quốc tế: là dịch vụ factoring được sử dụng khi người bán và người mua ở hai quốc gia khác nhau.
Hợp đồng thương mại quốc tế thường quy định sử dụng các phương thức thanh toán như ghi sổ, D/A. Điểm khác biệt của factoring quốc tế so với factoring nội địa là khả năng có sự tham gia của hai đơn vị factoring ở 2 nước đứng ra làm đại lý cho nhau để cung cấp dịch vụ cho người XK hoặc người NK. Theo phạm vi giao dịch của factor đối với người mua 11 - Factoring kín: là việc người bán bán các khoản phải thu cho đơn vị factoring nhưng không thông báo cho người mua biết. Người mua vẫn thanh toán tiền hàng cho người bán và người bán chuyển số tiền này cho đơn vị factoring.
- Factoring công khai: là dịch vụ factoring được cung cấp cho người bán đồng thời thông báo cho người mua biết việc người bán đã chuyển nhượng các khoản phải thu cho đơn vị factoring. Người mua trực tiếp thanh toán tiền hàng cho đơn vị factoring. Quy trình thực hiện Factoring quốc tế a. Factoring xuất khẩu Nhà factor XK sẽ cung cấp tất cả các dịch vụ bảo hiểm rủi ro không thanh toán, quản lý khoản phải thu, thu nợ và dịch vụ tài trợ cho nhà XK tùy theo yêu cầu của nhà XK thông qua việc ký kết hợp đồng trực tiếp với nhà XK.
Sau đó nhà factor XK sẽ giao dịch trực tiếp với người NK mà không có sự tham gia của nhà factor NK. Họ nhận toàn bộ những công việc cấp hạn mức tín dụng và thu nợ người mua ở nước ngoài. Hình thức này gần giống với Factoring nội địa.1: Quy trình nghiệp vụ factoring xuất khẩu (1) NHÀ XUẤT NHÀ NHẬP KHẨU KHẨU (2) (3) (8) (5) (6) (4) NHÀ FACTOR ĐẠI LÝ FACTOR XUẤT KHẨU (7) XUẤT KHẨU Ở NƯỚC NGOÀI (1) Nhà XK giao hàng hóa cho nhà NK (2) Nhà XK gửi hóa đơn, chứng từ vận tải đến nhà factor XK (3) Nhà factor XK trả phần ứng trước cho nhà XK với một tỷ lệ thanh toán thỏa thuận 12 (4) Nhà factor XK gửi hóa đơn và chứng từ vận tải cho đại lý của họ ở nước ngoài (5) Đại lý factor XK ở nước ngoài gửi hóa đơn và chứng từ vận tải cho nhà NK (6) Nhà NK phải thanh toán đầy đủ khi đến hạn cho đại lý của nhà factor XK (7) Đại lý của nhà factor XK thanh toán lại cho nhà factor XK (8) Nhà factor XK thanh toán cho nhà XK số tiền còn lại theo giá trị hóa đơn. Factoring nhập khẩu Trái ngược với Factoring xuất khẩu, hợp đồng Factoring nhập khẩu được ký kết trực tiếp giữa nhà factor NK và người XK, và gần như không có sự tham gia của nhà factor XK.
Thông thường đại lý của nhà factor NK sẽ tham gia vào loại hình này. Hình thức này phù hợp với hai chức năng là thu nợ và bảo hiểm rủi ro còn chứng năng tài trợ thường không được áp dụng.2: Quy trình nghiệp vụ Factoring nhập khẩu (1) NHÀ NHẬP NHÀ XUẤT KHẨU KHẨU (2) (7) (4) (5) (3) NHÀ FACTOR ĐẠI LÝ FACTOR NHẬP KHẨU (6) NHẬP KHẨU Ở NƯỚC NGOÀI (1) Nhà XK giao hàng hóa cho nhà NK (2) Nhà NK thực hiện một số tiền bảo chứng tín dụng cho nhà factor NK (3) Nhà factor thực hiện cam kết bảo đảm thanh toán thanh toán cho đại lý của họ ở nước ngoài (4) Đại lý factor NK gửi bản cam kết đến nhà XK ở nước đó (5) Nhà XK gửi hóa đơn và chứng từ vận tải đến đại lý factor NK 13 (6) Đại lý factor NK ở nước ngoài gửi các hóa đơn và chứng từ vận tải đến nhà factor NK (7) Nhà factor NK gửi các hóa đơn và chứng từ vận tải đến nhà NK. Nhà NK phải chuyển trả đủ tiền cho nhà factor vào ngày đáo hạn c. Factoring hai đại lý Sơ đồ 1.3: Quy trình nghiệp vụ Factoringhai đại lý (1) NHÀ XUẤT NHÀ NHẬP KHẨU KHẨU (8) (3) (2) (5) (6) (4) NHÀ FACTOR NHÀ FACTOR XUẤT KHẨU (7) NHẬP KHẨU (1) Nhà XK giao hàng hóa cho nhà NK, sau đó lập hóa đơn và chứng từ giao hàng cho nhà NK (2)Gửi bản sao hóa đơn cho nhà factor XK (3) Thanh toán trước trị giá hóa đơn theo tỷ lệ quy định trước ( thường là 80%) cho nhà XK (4) Gửi bản sao hóa đơn cho nhà factor NK (5) Thông báo đến hạn thanh toán (6) Thanh toán khi đến hạn (7) Thanh toán lại cho nhà factor (8) Thanh toán nốt cho nhà XK sau khi đã trừ phí và lãi suất Những lợi thế của Factoring hai đại lý là khá rõ ràng: - Nhà factor XK giờ đây có thể không cần hiểu biết rõ ràng về tập quán thương mại của nước khác mà vẫn cung cấp cho khách hàng dịch vụ hoàn hảo do có sự tham gia của nhà factor NK.
14 - Việc kết hợp giữa sự thông thạo về thị trường trong nước của nhà factor XK với sự thông thạo địa phương của nhà factor NK sẽ đem lại một dịch vụ tối ưu cho nhà XK, đồng thời hạn chế được nhưng bất đồng về ngôn ngữ giữa hai nước. - Trong giao dịch giữa các quốc gia cách xa về địa lý hoặc khác biệt về tập quán thương mại thì factoring hai đại lý thường là lựa chọn hàng đầu. Khái quát về hoạt độngForfaiting 1. Định nghĩa Forfaiting Có một số định nghĩa sau về Forfaiting: Theo cuốn “ Nghiệp vụ bao thanh toán “ – Ths.
Nguyễn Quỳnh Lan :” Forfaiting là một dạng tài trợ thương mại quốc tế có liên quan tới việc người xuất khẩu bán miễn truy đòi với các mức giá chiết khấu cho các đơn vị bao thanh toán (Forfaiter) các khoản phải thu trung và dài hạn có nguồn gốc từ các khoản phải thu có bảo lãnh thanh toán của một ngân hàng có uy tín”. Theo cuốn“ Giáo trình thanh toán quốc tế trong ngoại thương” – GS. Đinh Xuân Trình thì : “Forfaiting là loại tín dụng trung và dài hạn mà một NHTM hoặc một công ty tài chính ứng trước không hoàn lại cho nhà xuất khẩu với một tỉ lệ % nhất định so với tổng giá trị hoá đơn để giành lấy quyền đòi lại tiền từ người nhập khẩu, và chịu mọi rủi mà nhà nhập khẩu không thanh toán được nếu có xảy ra. Các Forfaiter chỉ cấp tín dụng này cho người xuất khẩu khi người nhập khẩu của anh ta đã được một ngân hàng bảo lãnh”.
Các định nghĩa trên cho thấy bao thanh toán Forfaiting có những đặc điểm cơ bản sau đây: - Tài trợ miễn truy đòi cho người XK khoản phải thu. Chấp nhận rủi ro tín dụng do các nhà NK nước ngoài gây ra. - Khả năng tài chính của các nhà NK thường được bảo đảm bởi một tổ chức tài chính có uy tín, thường là ngân hàng tại nước người NK đứng ra bảo lãnh. Trong trường hợp nhà NK có tiềm lực rất mạnh về tài chính thì có thể tự đứng ra bảo lãnh cho mình.
- Thanh toán ngay giá trị của hối phiếu, miễn truy đòi người xuất khẩu sau khi đã trừ phí chiết khấu. 15 - Mức chiết khấu thường được tính theo một tỷ lệ lãi suất cố định, tuy nhiên, trong một số trường hợp người ta vẫn tính theo lãi suất thả nổi. - Thời hạn tín dụng là trung hoặc dài hạn ( thường từ 180 ngày đến 5 năm) - Khoản tiền đem forfaiting nằm trong khoảng 100.000 – 200 triệu USD hoặc có thể nhiều hơn. - Công cụ để đòi nợ trong ngiệp vụ Forfaiting là các kì phiếu, hối phiếu hoặc thư tín dụng.
Đặc biệt khi một Forfaiter mua lại giấy nợ để giành lấy quyền đòi nợ từ nhà nhập khẩu, forfaiter có thể giữ lại những giấy tờ đó chờ đáo hạn và yêu cầu nhà nhập khẩu thanh toán hoặc cũng có thể bán lại những giấy tờ đó trước khi đáo hạn.Đối với tín dụng forfaiting, có hai loại thị trường là thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.