CHƯƠNG 1: VỐN ODA VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA CHO GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO 1. Vị trí của giáo dục đào tạo trong nền kinh tế quốc dân 1. Vị trí của Giáo dục đào tạo trong nền kinh tế quốc dân 1. Hệ thống Giáo dục đào tạo trong nền kinh tế quốc dân Hệ thống giáo dục quốc dân là một sản phẩm tự nhiên của cuộc sống, với cốt lõi vật chất là nền sản xuất vật chất.
Nền sản xuất hiện đại là nguyên nhân vật chất tạo ra sự phân hoá các lứa tuổi của trẻ em hiện đại, là căn cứ đáng tin cậy nhất để thiết kế các bậc học. Các bậc học là sự phân đoạn toàn bộ tiến trình phát triển tự nhiên (song song với sự trưởng thành tự nhiên) của trẻ em hiện đại. Theo Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 38/2005/QH11 ngày 14 tháng 6 năm 2005; mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Căn cứ trên mục tiêu giáo dục, điều kiện kinh tế xã hội và tiến trình phát triển của trẻ em, hệ thống giáo dục được xây dựng bao gồm giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên.
Các cấp học và trình độ đào tạo của hệ thống giáo dục quốc dân bao gồm:Giáo dục mầm non có nhà trẻ và mẫu giáo;Giáo dục phổ thông có tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông;Giáo dục nghề nghiệp có trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề;Giáo dục đại học và sau đại học (sau đây gọi chung là giáo dục đại học) đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ.1) Hệ thống giáo dục đào tạo về cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu của phát triển kinh tế văn hóa xã hội đất nước đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại hóa, hệ thống cần hoàn thiện hơn, giải quyết các vấn đề còn tồn tại: chất lượng giáo dục đào tạo ở các cấp bậc học, giáo dục đào tạo gắn với nhu cầu về nguồn nhân lực của thị trường lao động, 8 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Giáo Dục Đào Tạo giáo dục đào tạo tại vùng sâu vùng xa, đội ngũ giáo viên của hệ thống giáo dục và đào tạo, mạng lưới các trường cao đẳng và đại học, phân luồng học sinh sang đào tạo nghề, cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo … Sơ đồ 1. Hệ thống giáo dục quốc dân ở Việt Nam 1. Vị trí Giáo dục đào tạo trong nền kinh tế quốc dân 9 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Giáo Dục Đào Tạo Sự nghiệp giáo dục đào tạo là cơ sở để tạo nên một thế hệ thanh thiếu niên có đầy đủ phẩm chất cũng như trình độ để phát triển kinh tế xã hội.
Nói cách khác, giáo dục đào tạo là nguồn lực chủ yếu để tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội. Không có quốc gia nào phát triển mà thiếu nguồn nhân lực do giáo dục đào tạo cung cấp. Việt Nam tuy là đất nước còn nghèo nhưng vẫn coi đầu tư vào giáo dục là quốc sách hàng đầu. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”1.
Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”2. Giáo dục ngày càng có ý nghĩa quyết định trong việc phát triển nền sản xuất vật chất của xã hội. Cuộc cách mạng khoa học kiểu mới hướng tới nâng cao năng suất lao động, bảo vệ môi trường sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, hàm lượng khoa học kết tinh trong các sản phẩm hàng hoá ngày càng tăng.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội gắn liền với sản xuất hàng hoá và thị trường, gắn liền với phân công lao động và hợp tác quốc tế, gắn liền với trình độ và năng lực sáng tạo, tiếp nhận và trao đổi công nghệ mới. Tài năng và trí tuệ, năng lực và bản lĩnh trong lao động sáng tạo của con người không phải xuất hiện một cách ngẫu nhiên, tự phát mà phải trải qua một quá trình chuẩn bị và đào tạo công phu, bền bỉ, có hệ thống. Vì vậy, giáo dục - đào tạo hiện nay được đánh giá không phải là yếu tố phi sản xuất, tách rời sản xuất mà là yếu tố bên trong, yếu tố cấu thành của nền sản xuất xã hội. Không thể phát triển được lực lượng sản xuất nếu không đầu tư cho giáo dục đào tạo, đầu tư vào nhân tố con người, nhân tố quyết định của lực lượng 1 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.
2 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 10 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Giáo Dục Đào Tạo sản xuất. Vì vậy, đầu tư cho giáo dục đào tạo là đầu tư cơ bản để phát triển kinh tế xã hội. Giáo dục đào tạo không chỉ có ý nghĩa lớn lao trong lĩnh vực sản xuất vật chất, mà còn là cơ sở để xây dựng nền văn hoá tinh thần của chế độ xã hội chủ nghĩa.
Giáo dục đào tạo có tác dụng to lớn trong việc truyền bá hệ tư tưởng chính trị xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng lối sống, đạo đức và nhân cách mới của toàn bộ xã hội. Đặt trong điều kiện của Việt Nam, Việt Nam đang chuyển mình sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế đặt ra yêu cầu rất cao về nguồn nhân lực có năng lực về thị trường, về kinh doanh. Đó chính là thách thức đối với phát triển giáo dục đào tạo phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường đối với giáo dục, giải quyết vấn đề cạnh tranh trong giáo dục, thương mại hoá giáo dục, công bằng giáo dục, phúc lợi xã hội trong giáo dục và dịch vụ giáo dục, thị trường đào tạo và sử dụng nhân tài. Thời kỳ toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, đất nước Việt Nam có điểm xuất phát chậm so với các nước.Tốc độ phát minh khoa học ngày càng gia tăng, khoảng cách từ phát minh đến ứng dụng rút ngắn.
Sự cạnh tranh về công nghệ cao diễn ra quyết liệt. Truyền thông về khoa học - công nghệ diễn ra sôi động. Nhiều tri thức và công nghệ mới ra đời đòi hỏi quá trình giáo dục phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, suốt đời để người lao động có thể thích nghi được. Chính vì thế giáo dục đào tạo phải được "chuẩn hoá", "hiện đại hoá", và “quốc tế hóa” làm cơ sở cho con người Việt Nam đi tắt đón đầu bắt kịp trình độ văn minh, khoa học công nghệ.
Đặc điểm của Giáo dục và Đào tạo 1. Đặc điểm về mục tiêu hoạt động Mục tiêu giáo dục là một hệ thống các chuẩn mực của một mẫu hình nhân cách cần hình thành ở một đối tượng người được giáo dục nhất định. Đó là một hệ thống cụ thể các yêu cầu xã hội trong mỗi thời đại, trong từng giai đoạn xác định đối với nhân cách một loại đối tượng giáo dục. Do đó, mục tiêu giáo dục phụ thuộc vào mỗi thời kỳ nhất định của quá trình phát triển xã hội và mỗi giai đoạn của quá 11 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA tại Bộ Giáo Dục Đào Tạo trình giáo dục con người.Trải qua các giai đoạn phát triển xã hội, cách tiếp cận xác lập mục tiêu giáo dục đang có nhiều thay đổi.
Trong bất cứ một xã hội nào, mục đích của giáo dục đều là chăm sóc, bồi dưỡng con người ở lứa tuổi đi học, là truyền thụ một cách có ý thức cho thế hệ trẻ những kinh nghiệm xã hội, những giá trị văn hóa – tinh thần của loài người và của dân tộc nhằm làm cho thế hệ trẻ có khả năng tham gia mọi mặt của cuộc sống góp phần phát triển xã hội.Vì vậy, giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người, giáo dục mang tính phổ biến và tồn tại vĩnh viễn với xã hội loài người. Những mục tiêu của hoạt động giáo dục đào tạo khái quát chung là đào tạo nguồn nhân lực đủ đức đủ tài, thích nghi với môi trường xã hội chung để xây dựng đất nước tại mọi lĩnh vực, cụ thể bao gồm: Phát triển toàn diện mỗi cá nhân. Trong tinh thần tôn trọng nhân cách và giá trị của cá nhân học sinh, giáo dục hướng vào việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính tự nhiên của mỗi người và theo những quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh được lưu ý đúng mức.
Cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh phán đoán, lựa chọn; không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, hướng đi định sẵn nào. Phát triển tinh thần quốc gia ở mỗi học sinh.