CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về Tài sản Doanh nghiệp 1. Khái quát về doanh nghiệp Theo PGS.TS Lưu Thị Thu Hương và PGS TS Vũ Duy Hào (2011) cho rằng doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Căn cứ khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh.TS Lê Thị Tuyết Hoa và TS Đặng Văn Dân (2017) cho rằng doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích sinh lời.
Như vậy, doanh nghiệp được hiểu là một tổ chức kinh tế, có thể có hoặc không có tư cách pháp nhân, có chức năng thực hiện các hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu nhất định: làm tăng giá trị của chủ sở hữu, các mục tiêu xã hội, văn hóa, giáo dục hay từ thiện. Tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản của doanh nghiệp Theo chuẩn mực kế toán số 01 định nghĩa: “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai.” Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư, hàng hoá hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp còn bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính; hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát được về mặt pháp lý, như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều kiện trong định nghĩa về tài sản khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế.
3 Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc các sự kiện đã qua, như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai không làm tăng tài sản. Như vậy tài sản của doanh nghiệp được hiểu là các nguồn lực kinh tế vô hình và hữu hình mà doanh nghiệp đang nắm giữ và kiểm soát và có thể đem lại lợi ích cho doanh nghiệp trong tương lai. Phân loại tài sản của doanh nghiệp Để kiểm soát và sử dụng tài sản hiệu quả, cần phân loại tài sản của doanh nghiệp một cách rõ ràng.
Trong phạm vi nghiên cứu của bài, Tài sản của doanh nghiệp chia làm 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. a, Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn (TSNH) của doanh nghiệp phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền, và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Trong doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, tài sản ngắn hạn tham gia vào một chu kỳ, có thời gian trong vòng một năm như tiền mặt, nguyên vật liệu, … Sau khi sang chu kỳ mới, doanh nghiệp phải dùng tài sản ngắn hạn mới, toàn bộ giá trị của tài sản ngắn hạn được chuyển dịch một lần vào sản phẩm và được bù đắp toàn bộ khi sản phẩm được tiêu thụ. Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi sang tiền nhằm đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp.
Có thể phân loại TSNH theo khả năng chuyển đổi và đặc điểm kinh tế như sau: - Tiền và các khoản tương đương tiền: tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp, tiền gửi ngân hàng không kỳ hạn, tiền luân chuyển. Các khoản tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi không quá ba tháng kể từ ngày đầu tư có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền, có thể bao gồm: kỳ phiếu ngân hàng, tín phiếu kho bạc, tiền gửi ngân hàng có kỳ hạn gốc không quá 3 tháng, … - Đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm, gồm tín phiếu kho bạc, trái phiếu, …) hoặc chứng khoán kinh doanh mua vào bán ra để kiếm lời và các khoản đầu tư tài chính không quá 12 tháng. 4 - Các khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán không quá 12 tháng. - Hàng tồn kho: là những tài sản được mua vào để sản xuất hoặc để bán trong kỳ sản xuất kinh doanh bình thường gồm: hàng mua đang đi trên đường, nguyên vật liệu, vật tư, thiết bị, phụ tùng thay thế có thời gian dự trữ dưới 12 tháng, sản phẩm dang, thành phẩm, hàng hóa, hàng gửi đi bán, … - Tài sản ngắn hạn khác: có thời hạn thu hồi không quá 12 tháng tại thời điểm báo cáo, như chi phí trả trước ngắn hạn, thuế giá trị gia tăng còn được khấu trừ, các khoản thuế phải thu, giao dịch mua bán lại trái phiếu Chính Phủ và các tài sản ngắn hạn khác.
b, Tài sản dài hạn: Tài sản dài hạn (TSDH) của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong nhiều kỳ kinh doanh hoặc hơn một năm. TSDH gồm: các khoản phải thu dài hạn, bất động sản đầu tư, tài sản cố định (TSCĐ), khoản đầu tư tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác. - Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm. - Bất động sản đầu tư: là những bất động sản gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do người chủ sở hữu hoặc người đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải sử dụng cho sản xuất cho hoạt động kinh doanh thông thường.
- Tài sản cố định: là những tài sản có giá trị lớn và có thời hạn thu hồi hoặc sử dụng trên 12 tháng. Tài sản được coi là tài sản cố định nếu thỏa mãn đồng thời ba tiêu chuẩn dưới đây: + Chắc chắn thu hồi được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; + Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; + Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30,000,000 đồng (ba mươi triệu đồng trở lên) Trong nhóm tài sản dài hạn này, tài sản dài hạn là tài sản dài hạn quan trọng nhất và thường chiếm tỷ lệ lớn nhất, phản ánh tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp. Tài sản cố định được chia thành hai loại: tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình 5 Tài sản cố định hữu hình: là những tài sản cố định có hình thái vật chất cụ thể do doanh nghiệp sử dụng cho hoạt động kinh doanh như: nhà cửa kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn, thiết bị dụng cụ quản lý, vườn cây, súc vật làm việc, và các loại tài sản cố định hữu hình khác Tài sản cố định vô hình: là những TSCĐ không có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị và do doanh nghiệp nắm giữ sử dụng trong sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ vô hình. - Đầu tư tài chính dài hạn: là các khoản đầu tư vào việc mua bán các chứng khoán có thời hạn thu hồi trên một năm hoặc góp vốn liên doanh bằng tiền, bằng hiện vật, mua cổ phiếu có thời hạn thu hồi vốn trên một năm và các loại đầu tư khác trên một năm.
- Tài sản dài hạn khác: bao gồm chi phí trả trước dài hạn, tài sản thuế thu nhập hoãn lại, tài sản dài hạn khác. Vai trò của tài sản trong doanh nghiệp 1. Vai trò của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là bộ phận trực tiếp hình thành nên các tài sản khác trong doanh nghiệp và đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra trơn tru và liên tục. Tài sản ngắn hạn là điều kiện tiên quyết của quá trình sản xuất kinh doanh.
TSNH đảm bảo cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp được tiến hành thường xuyên, liên tục. TSNH giúp phản ánh đánh giá quá trình mua sắm, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp. Vai trò của tài sản dài hạn TSDH đóng vai trò là những tư liệu lao động chủ yếu tham gia và quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và gắn liền với doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại. Tài sản cố định phản ánh mặt bằng cơ sở hạ tầng của doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp có phù hợp tương xứng với đặc điểm loại hình kinh doanh.
Tài sản cố định hiện đại là lợi thế giúp doanh nghiệp tăng năng suát lao động, hoàn thiện hơn về chất lượng sản phẩm, tạo lợi thế cạnh tranh về giá trên thị trường. Tài sản cố định là một công cụ huy động vốn hiệu quả, đóng vai trò là đối tượng thế chấp, một yếu tố quan trọng tác động đến ý định cho doanh nghiệp vay hay không của ngân hàng. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp Theo từ điển tiếng Việt, hiệu quả là chỉ sự phù hợp giữa kết quả thực tế của một hoạt động so với kết quả dự kiến từ trước.