Chương 1: Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần xây dựng số 9-Vinaconex 9 Chương 3: Giải pháp và những khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty cổ phần xây dựng số 9-Vinaconex 9. Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh MHV: CA120469-Chu Quốc Thái 9 Trƣờng ĐH Bách Khoa Hà Nội Viện Kinh tế và Quản lý CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. TỔNG QUAN VỀ TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm, phân loại doanh nghiệp Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tƣ cách pháp nhân, hoạt động kinh doanh trên thị trƣờng nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu. Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục đích sinh lợi. Các doanh nghiệp ở Việt Nam bao gồm: Doanh nghiệp Nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, công ty liên doanh, doanh nghiệp tƣ nhân.
Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp bao gồm các chủ thể kinh doanh: Kinh doanh cá thể, Kinh doanh góp vốn, Công ty. Kinh doanh cá thể: Là loại hình đƣợc thành lập đơn giản nhất, không cần phải có điều lệ chính thức và ít chịu sự quản lý của Nhà nƣớc. Doanh nghiệp này không phải trả thuế thu nhập doanh nghiệp, tất cả lợi nhuận bị tính thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ và các khoản nợ, không có sự tách biệt giữa tài sản cá nhân và tài sản của doanh nghiệp.
Thời gian hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào tuổi thọ của ngƣời chủ. Tuy nhiên, khả năng thu hút vốn bị hạn chế bởi khả năng của ngƣời chủ. Kinh doanh góp vốn: Việc thành lập doanh nghiệp này dễ dàng và chi phí thành lập thấp. Theo hình thức kinh doanh này, các thành viên chính thức Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh MHV: CA120469-Chu Quốc Thái 10 Trƣờng ĐH Bách Khoa Hà Nội Viện Kinh tế và Quản lý có trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ.
Mỗi thành viên có trách nhiệm đối với phần tƣơng ứng với phần vốn góp. Nếu nhƣ một thành viên không hoàn thành trách nhiệm trả nợ của mình, phần còn lại sẽ do các thành viên khác hoàn trả. Doanh nghiệp tan vỡ khi một trong các thành viên chính thức rút vốn. Ngoài ra, lãi từ hoạt động kinh doanh của các thành viên phải chịu thuế thu nhập cá nhân.
Khả năng về vốn của doanh nghiệp này hạn chế. Công ty: Là loại hình doanh nghiệp mà ở đó có sự kết hợp ba loại lợi ích: lợi ích của các cổ đông (chủ sở hữu), của hội đồng quản trị và của các nhà quản lý. Theo truyền thống, cổ đông kiểm soát toàn bộ phƣơng hƣớng, chính sách và hoạt động của công ty. Cổ đông bầu nên hội đồng quản trị, sau đó hội đồng quản trị lựa chọn ban quản lý.
Các nhà quản lý quản lý hoạt động của công ty theo cách thức mang lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Việc tách rời quyền sở hữu khỏi các nhà quản lý mang lại cho công ty các ƣu thế so với kinh doanh cá thể và góp vốn: - Quyền sở hữu có thể dễ dàng chuyển cho cổ đông mới. - Sự tồn tại của công ty không phụ thuộc vào sự thay đổi số lƣợng cổ đông. - Trách nhiệm của cổ đông chỉ giới hạn ở phần vốn mà cổ đông góp vào công ty (trách nhiệm hữu hạn).
Mỗi loại hình doanh nghiệp có những ƣu, nhƣợc điểm riêng và phù hợp với quy mô và trình độ phát triển nhất định. Hầu hết các doanh nghiệp lớn hoạt động với tƣ cách là các công ty. Đây là loại hình phát triển nhất của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp.Khái niệm tài sản của doanh nghiệp.
Tài sản của doanh nghiệp là toàn bộ tiềm lực kinh tế của doanh nghiệp, biểu thị lợi ích mà doanh nghiệp thu đƣợc trong tƣơng lai hoặc những tiềm năng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Nói cách khác tài sản là tất Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh MHV: CA120469-Chu Quốc Thái 11 Trƣờng ĐH Bách Khoa Hà Nội Viện Kinh tế và Quản lý cả những gì hữu hình hoặc vô hình gắn với lợi ích và tƣơng lai của doanh nghiệp và thỏa mãn các điều kiện sau: - Thuộc quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát lâu dài của doanh nghiệp - Có gái trị và có thể tạo ra giá trị cho doanh nghiệp.Phân loại tài sản của doanh nghiệp. Tài sản của doanh nghiệp thƣờng đƣợc chia thành 2 loại: Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. *Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản mà thời gian sử dụng, thu hồi luân chuyển trong một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền. Tiền đƣợc hiểu là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng và tiền đang chuyển. Các khoản tƣơng đƣơng tiền là các khoản đầu tƣ ngắn hạn không quá 3 tháng, có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành tiền và không có nhiều rủi ro trong chuyển đổi thành tiền. Tài sản tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tƣ chứng khoán có thời hạn thu hồi dƣới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (nhƣ: tín phiếu kho Bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tƣ tài chính khác không quá một năm.
Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán dƣới một năm. Tồn kho: Bao gồm vật tƣ, hàng hoá, sản phẩm, sản phẩm dở dang. Tài sản ngắn hạn khác, bao gồm: Chi phí trả trƣớc ngắn hạn, thuế GTGT đƣợc khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nƣớc, tài sản ngắn hạn khác. Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh MHV: CA120469-Chu Quốc Thái 12 Trƣờng ĐH Bách Khoa Hà Nội Viện Kinh tế và Quản lý *Tài sản dài hạn Tất cả các tài sản khác ngoài tài sản ngắn hạn đƣợc xếp vào loại tài sản dài hạn.
Tài sản dài hạn bao gồm các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tƣ, các khoản tài sản tài chính dài hạn và các tài sản dài hạn khác. Các khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu dài hạn của khách hàng, phải thu nội bộ dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh toán trên một năm. Bất động sản đầu tư: là những bất động sản, gồm: quyền sử dụng đất, nhà hoặc một phần của nhà hoặc cả nhà và đất, cơ sở hạ tầng do ng ƣời chủ sở hữu hoặc ngƣời đi thuê tài sản theo hợp đồng thuê tài chính nắm giữ nhằm mục đích thu lợi từ việc cho thuê hoặc chờ tăng giá mà không phải để sử dụng trong sản xuất, cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay cho các mục đích quản lý hoặc bán trong kỳ hoạt động kinh doanh thông thƣờng. Một bất động sản đầu tƣ đƣợc ghi nhận là tài sản phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau: - Chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai.
- Nguyên giá của bất động sản đầu tƣ phải đƣợc xác định một cách đáng tin cậy. Nguyên giá của bất động sản đâu tƣ bao gồm giá mua và các chi phí liên quan trực tiếp, nhƣ: phí dịch vụ tƣ vấn luật pháp liên quan, thuế trƣớc bạ và các chi phí giao dịch liên quan khác. Tài sản cố định: Là những tài sản có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài cho các hoạt động của doanh nghiệp và phải thoả mãn đồng thời tất cả các tiêu chuẩn sau: Luận văn Thạc sỹ Quản trị kinh doanh MHV: CA120469-Chu Quốc Thái 13 Trƣờng ĐH Bách Khoa Hà Nội Viện Kinh tế và Quản lý - Chắc chắn thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai từ việc sử dụng tài sản đó. - Nguyên giá tài sản phải đƣợc xác định một cách tin cậy.
- Có thời gian sử dụng từ 1 năm trở lên. - Có giá trị từ 30.000 đồng(ba mƣơi triệu đồng) trở lên. Trong điều kiện hiện nay, việc đầu tƣ đổi mới tài sản cố định là một trong các yếu tố quyết định đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, bởi vì: - Tài sản cố định là yếu tố quyết định năng lực sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. - Nhờ đổi mới tài sản cố định mới có đƣợc năng suất cao, chất lƣợng sản phẩm và dịch vụ tốt, chi phí tạo ra sản phẩm, dịch vụ thấp tạo điều kiện đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ đó làm tăng doanh thu và do đó doanh nghiệp mới có đủ sức cạnh trạnh trên thị trƣờng.
Xét trên góc độ này, đầu tƣ đổi mới tài sản cố định kịp thời, hợp lý trở thành vấn đề sống còn đối với mỗi doanh nghiệp. - Xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp, sự nhạy cảm trong đầu tƣ đổi mới tài sản cố định là một nhân tố quan trọng để giảm chi phí nhƣ: Chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, hạ thấp hao phí năng lƣợng, giảm chi phí biến đổi để tạo ra sản phẩm và là biện pháp rất quan trọng để hạn chế hao mòn vô hình trong điều kiện cách mạng khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, mạnh nhƣ hiện nay. Tài sản cố định đƣợc phân loại dựa trên các tiêu thức nhất định nhằm phục vụ cho những yêu cầu quản lý của doanh nghiệp.