phần mở đầu, kết luận chung còn có các phần sau: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 3: HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NAM TIẾN CHƢƠNG 4: NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NAM TIẾN 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu. Trong bài “Sáu sai lầm trong quản lý nguồn vốn lƣu động” của Kevin Kaiser và S.David Young trên Harvard Business Review đƣợc tác giả Hoàng Đăng dịch đăng trên tuanvietnam. Sau khi nghiên cứu quá trình hoạt động của các công ty và tập đoàn lớn trên thế giới các tác giả đã nêu ra 6 sai lầm trong công tác quản trị vốn lƣu động thƣờng thấy đó là: Quản lý các khoản phải thu theo các khoản phải trả; Áp dụng hệ số thanh toán nợ hiện tại và hệ số thanh toán nợ nhanh; Quản lý bằng báo cáo thu nhập; Khen thƣởng cho đội ngũ kinh doanh vì tốc độ tăng trƣởng đạt đƣợc; Lấy đối thủ làm chuẩn; Quá chú trọng chất lƣợng sản phẩm trong quá trình sản xuất. Tác giả Lƣu Thủy trong bài "Doanh nghiệp nhỏ và vừa: Vật lộn trong khó khăn" đăng trên báo Lao động ngày 04/01/2012 cho biết trong năm 2011 có 60% DNNVV đang chịu tác động của khó khăn kinh tế nên sản xuất sút kém hoặc bị đình trệ (chi phí sản xuất tăng cao do tác động của lạm phát, giá thành sản phẩm tăng không cạnh tranh đƣợc nên bị mất thị phần, gia tăng lƣợng hàng tồn kho, doanh thu và lợi nhuận đều sụt giảm nên không đủ vốn để duy trì sản xuất).
Chỉ có 20% DNNVV còn lại là ít bị ảnh hƣởng và có thể trụ vững đƣợc (do ít phụ thuộc vào nguồn vốn vay và đƣợc các lãnh đạo có kinh nghiệm dẫn dắt). Nhƣ vậy là có tới 80% DNNVV gặp khó khăn trong năm 2011. “Đau đầu bài toán sử dụng vốn hiệu quả” của tác giả Minh Đức đăng trên diễn đàn kinh tế Việt Nam ngày 12/05/2011 đã nêu ra một số nguyên nhân làm suy giảm hiệu quả sử dụng vốn trong các doanh nghiệp tại Việt Nam nhƣ kinh tế khó khăn các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn, cấu trúc vốn không hợp lý, tuy nhiên tác giả cũng chỉ ra rằng trong các điều kiện nguồn vốn bị ràng buộc nhƣ hiện nay, các công ty cần tiến hành cấu trúc lại danh mục tài sản trong 4 bảng cân đối kế toán của mình một cách có chủ đích nhằm phục vụ cho mục tiêu tăng trƣởng và tạo ra lợi nhuận cao, loại bỏ bớt những tài sản không quan trọng và bỏ qua những dòng tiền khó kiểm soát. Bài viết “Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại doanh nghiệp” của tác giả Hà Quốc Thắng đăng trên website tapchitaichinh.vn ngày 10/03/2016 có nêu “Sử dụng hiệu quả vốn lƣu động có tính cấp thiết đối với sự tồn tại của DN và là một mục tiêu mà DN cần phấn đấu cao để đạt đƣợc.
Vốn lƣu động là một bộ phận quan trọng của vốn sản xuất, là yếu tố không thể thiếu đƣợc của quá trình sản xuất kinh doanh, quá trình xây dựng thi công các công trình” Trong luận án Tiến sĩ "Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp xây dựng công trình giao thông thuộc bộ Giao thông vân tải" tại trƣờng đại học Kinh tế Quốc dân năm 2013 tác giả Nguyễn Thị Thanh Hải có chỉ ra rằng "Trong điều kiện cạnh tranh và và nguồn lực ngày càng khan hiếm, để đứng vững trên thị trƣờng và không ngừng phát triển, DN cần phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình" và để sử dụng hiệu quả các nguồn lực có hạn, doanh nghiệp cần đánh giá đƣợc thực trạng hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Đây cũng là lý do các doanh nghiệp nhƣ Công ty CP Nam Tiến cần xây dựng chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản cho công. Tác giả Phạm Thành Long có viết "Để có thể tồn tại và phát triển ổn định trong nền kinh tế thị trƣờng, đóng góp nhiều hơn cho công cuộc phát triển kinh tế chung của đất nƣớc các doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn phải quan tâm đến việc tăng cƣờng hiệu quả sản xuất kinh doanh" trong Luận án Tiến sĩ "Hoàn thiện kiểm tra, phân tích báo cáo tài chính với việc tăng cƣờng quản trị tài chính trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam" tại trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2008. Tuy nhiên Luận án chủ yếu đề cập đến việc tăng cƣờng hiệu quả kinh doanh thông qua công tác phân tích báo cáo tài chính nói chung.
Luận văn thạc sĩ năm 2006 tại Học viện Tài chính của tác giả Lê Thị Huyền Trang “Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lƣu động tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu than – VINACOMIN” và luận văn thạc sĩ năm 2008 tại trƣờng Đại học 5 Kinh tế Quốc dân của tác giả Nguyễn Thị Thanh Dung “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty cổ phần Hàng Hải Hà Nội”, các tác giả đã hệ thống các chỉ tiêu tuy nhiên lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên không cùng lĩnh vực hoạt động với Công ty cổ phần Nam Tiến và thời gian nghiên cứu đã lâu không đảm bảo tính phù hợp với những diến biến của thị trƣờng Luận văn thạc sĩ năm 2012 tại Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội của tác giả Đào Thị Thu Huyền với đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng” đã hệ thống đƣợc các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản tại doanh nghiệp cũng nhƣ đã chỉ ra đƣợc những thành công và hạn chế của Công ty TNHH gốm sứ Bát Tràng tuy nhiên lĩnh vực kinh doanh của Công ty là khá đặc thù và không thể áp dung cho các doanh nghiệp khác. Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hằng nghiên cứu đề tài “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động Công ty Xây dựng 123-Cienco” trong luận văn thạc sĩ năm 2014, tác giả Nguyễn Thị Minh nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động Tổng công ty Đầu tƣ phát triển hạ tầng đô thi UDIC” trong luận văn thạc sĩ năm 2014, tại trƣờng Đại học Kinh tế đại học Quốc gia Hà Nội. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh có tƣơng đồng với lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Công ty Cổ phần Nam Tiến tuy nhiên đề tài chỉ nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản lƣu động hay tài sản ngắn hạn, không đề cập đến hiệu quả sử dụng tổng tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản dài hạn. Trong luận văn “Hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty Cổ phần Kinh Đô” năm 2014 tại trƣờng Đại học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội, tác giả Đặng Ngọc Bích tuy chỉ nghiên cứu về tài sản ngắn hạn những đã chỉ rất kĩ và đấy đủ cơ sở lý luận của việc phân tích hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tác giả đã đánh giá đƣợc hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của Công ty cổ phần Kinh Đô, tuy nhiên tác giả chƣa so sánh các chỉ tiêu sử dụng tài sản của Công ty cổ phần Kinh Đô với các doanh nghiệp cùng ngành khác.
Tác giả Đinh Thị Hà cũng nghiên cứu “Nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty TNHH MTV điện lực Ninh Bình” trong luận văn thach sĩ năm 2015 tại Đại 6 học Kinh tế Đại học Quốc gia Hà Nội của mình. Tác giả có viết “Trong thời kì nền kinh tế hội nhập nhƣ hiện nay, các doanh ghiệp muốn tồn tại và phát triển bền vững cần phải có chiến lƣợc và bƣớc đi thích hợp. Trƣớc tình hình đó, vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản càng đƣợc đặc biệt quan tâm”, tác giả đã chỉ ra rằng việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản là vô cùng cần thiết và cần đƣợc các doanh nghiệp quan tâm. Đề tài nghiên cứu hiệu quả sử dụng tài sản của một doanh nghiệp điện lực, một ngành kinh doanh độc quyền của Nhà nƣớc do đó tài sản doanh nghiệp ít bị ảnh hƣởng khi thị trƣờng biến động.
Nhìn chung các luận văn có cùng hƣớng nghiên cứu về hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp đều đã chỉ ra đƣợc tầm quan trọng của việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản. Các nghiên cứu đã hệ thống đƣợc các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn, tìm ra đƣợc điểm hạn chế trong công tác quản trị tài sản của mỗi doanh nghiệp và đề xuất đƣợc một số giải pháp cải thiện. Tuy nhiên mỗi doanh nghiệp có quy mô và lĩnh vực hoạt động không giống nhau có bộ chỉ số về hiệu quả sử dụng tài sản là không giống nhau do đó không thể dùng số liệu tính toán từ doanh nghiệp này áp dụng vào doanh nghiệp khác. Không những thế sự khác biệt về thời gian và vị trí hoạt động của các doanh nghiệp cũng tạo ra những khác biệt trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản.
Luận văn này có sự kế thừa những kết quả nghiên cứu trƣớc đó và hơn nữa luận văn sẽ phân tích, đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp cũng với những biến động của ngành, của thị trƣờng, có sự so sánh với doanh nghiệp cùng quy mô và lĩnh vực hoạt động để ngƣời đọc có cái nhìn toàn diện và chính xác về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Nam Tiến. Những giải pháp đƣợc kiến nghị sẽ liên quan chặt chẽ với những hạn chế mà Công ty Cổ phần Nam Tiến đang gặp phải, từ đó đóng góp thiết thực cho việc nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản của Công ty Cổ phần Nam Tiến và là tài liệu tham khảo cho các doanh nghiệp khác.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp.1 Khái niệm tài sản doanh nghiệp. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu đƣợc lợi ích kinh tế trong tƣơng lai. Lợi ích kinh tế trong tƣơng lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra (Bộ tài chính 2002).