LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong sự phát triển của nền kinh tế cũng như sự phát triển đa dạng của các loại tài sản, doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển thì cần phải có những chính sách cụ thể và biện pháp thích hợp để quản lý cho từng loại tài sản để đảm bảo tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì thế các nhà quản trị doanh nghiệp ngày càng đặc biệt quan tâm vấn đề làm sao để sử dụng tài sản một cách hiệu quả. Sử dụng tài sản hiệu quả có nghĩa là làm cho tài sản được đưa vào sử dụng hợp lí để kiếm lợi nhuận cao nhất, đồng thời luôn tìm các nguồn tài trợ, tăng tài sản hiện có để mở rộng sản xuất kinh doanh cả về chất và lượng, đảm bảo mục tiêu mà các doanh nghiệp đề ra.
Quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp khẳng định vị trí vững chắc của mình trên thị trường. Công ty Cổ phần Điện lực GELEX là một trong những doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất sản xuất kinh doanh thiết bị điện. Trong quá trình hình thành và phát triển, công ty đã luôn nỗ lực để ngày càng khẳng định vị thế của công ty trên thị trường, mở rộng thị phần, kiểm soát chi phí, đầu tư tài sản phát triển hoạt động kinh doanh… Vấn đề sử dụng tài sản của công ty đòi hỏi ngày càng phải hoàn thiện trong bối cảnh quy mô của công ty gia tăng theo thời gian. Vì vậy, em đã quyết định lựa chọn đề tài “Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX” làm đề tài cho khoá luận tốt nghiệp của mình.
Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là: − Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX − Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX − Đề xuất các giải pháp nhằm giúp công ty Cổ phần Điện lực GELEX nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu − Đối tượng nghiên cứu: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX − Phạm vi nghiên cứu: + Phạm vu thời gian: Hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX trong giai đoạn 2020-2022 + Phạm vi không gian: Công ty Cổ phần Điện lực GELEX 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài nghiên cứu bao gồm: − Phương pháp thống kê và phân tích: Phương pháp này sẽ tổng hợp các thông tin, số liệu thu thập được và từ đó thể hiện dữ liệu dưới các dạng bảng, biểu đồ.đề phục vụ cho quá trình phân tích. − Phương pháp so sánh: Phương pháp này giúp phát hiện các sai khác trong từng chỉ tiêu hoạt động sản xuất kinh doanh qua việc thực hiện so sánh các chỉ tiêu tài chính qua các năm, từ đó chỉ ra được những điểm đã hoặc chưa làm được của doanh nghiệp.
Đồng thời phương pháp so sánh cũng được áp dụng để đối chiếu kết quả hoạt động của công ty với kết quả hoạt động của các công ty khác, nhằm có cái nhìn khách quan nhất về hiệu quả hoạt động của công ty. Kết cấu khóa luận Nội dung chính của khoá luận được kết cấu thành 3 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về tài sản và hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Phần 2: Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản tại Cổ phần Điện lực GELEX Phần 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản tại Công ty Cổ phần Điện lực GELEX. Thư viện ĐH Thăng Long PHẦN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Khái quát về tài sản trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản trong doanh nghiệp Tài sản là một thuật ngữ quen thuộc đối với bất kỳ ai, đó là một vấn đề trọng tâm của các quan hệ xã hội nói chung và trong quan hệ pháp luật nói riêng. Tài sản tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, phong phú và đa dạng, vì vậy đã có rất nhiều quan điểm về tài sản có thể kể đến như: Theo PGS. Nguyễn Đình Kiệm (2012), tài sản trong doanh nghiệp là tất cả các nguồn có thực, hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp đó.
Tài sản thường được hiểu là những đối tượng mang lợi ích nào đó đối với con người và có thể định giá được bằng tiền. Căn cứ theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự năm 2015 thì Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.
Thống nhất với quan điểm trên, Bộ Tài chính Việt Nam quy định: “tài sản là những nguồn lực doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho doanh nghiệp”. Các “nguồn lực” này có thể được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể như máy móc, nhà xưởng hoặc không như bản quyền, bằng phát minh, sáng chế. Khả năng “kiểm soát” của doanh nghiệp đối với tài sản xuất phát từ quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng lâu dài dựa trên các hợp đồng thuê tài chính “Lợi ích kinh tế trong tương lai” của tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. Những quy định này tương đồng với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện hành.
Theo chuẩn mực kế toán số 1 – Chuẩn mục chung (ban hành và công bố theo quyết định số 165/2002/QĐ – BTC ngày 31/12/2002 của Bộ trưởng Bộ Tài chính). Tài sản được biểu hiện dưới hình thái vật chất như nhà xưởng, máy móc, thiết bị, vật tư hàng hóa hoặc không thể hiện dưới hình thái vật chất như bản quyền, bằng sáng chế nhưng phải thu được lợi ích kinh tế trong tương lai và thuộc quyền kiểm soát của doanh nghiệp, tài sản của doanh nghiệp còn được bao gồm các tài sản không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng doanh nghiệp kiểm soát được và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, như tài sản thuê tài chính, hoặc có những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp và thu được lợi ích kinh tế trong tương lai nhưng có thể không kiểm soát về mặt pháp lý như bí quyết kỹ thuật thu được từ hoạt động triển khai có thể thỏa mãn các điều 1 kiện trong định nghĩa về tài sản, khi các bí quyết đó còn giữ được bí mật và doanh nghiệp còn thu được lợi ích kinh tế. Tài sản của doanh nghiệp được hình thành từ các giao dịch hoặc sự kiện đã qua như góp vốn, mua sắm, tự sản xuất, được cấp, được biếu tặng. Các giao dịch hoặc các sự kiện dự kiến sẽ phát sinh trong tương lai nhưng không làm tăng tài sản.
Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó. Mặt khác, tài sản doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực do doanh nghiệp nắm quyền kiểm soát, cầm giữ và mang lại được lợi ích kinh tế trong tương lai từ những tài sản đó. Đặc tính đó cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản.
Chính vì vậy, cần thực hiện quản lý tài sản để những tài sản đó đem lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu doanh nghiệp. Đặc điểm của tài sản trong doanh nghiệp Tài sản chính là biểu hiện của vốn, hay nói cách khác, tài sản luôn đại diện cho một lượng vốn nhất định. Tài sản cũng giống như các hàng hoá thông thường khác đều là sản phẩm của lao động. Vì vậy, tài sản cũng có giá trị và giá trị sử dụng.
Tài sản phải được sử dụng nhằm mục đích sinh lợi. Lợi ích kinh tế của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra. + Tài sản trong doanh nghiệp có những đặc điểm như sau − Đa dạng: Tài sản trong doanh nghiệp có thể bao gồm nhiều loại như tiền mặt, hàng hóa, nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, cơ sở hạ tầng, bất động sản, bằng sáng chế, thương hiệu và các quyền sở hữu trí tuệ, v. Đa dạng các loại tài sản giúp doanh nghiệp thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh và đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
− Giá trị: Tài sản trong doanh nghiệp thường có giá trị kinh tế. Giá trị này thể hiện trong giá trị cung cấp cho hoạt động kinh doanh, khả năng tạo ra lợi nhuận hoặc trở thành nguồn tài chính để thực hiện các hoạt động đầu tư và phát triển của doanh nghiệp. − Sở hữu: Tài sản trong doanh nghiệp thường thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Điều này có nghĩa rằng doanh nghiệp có quyền kiểm soát, sử dụng và tận dụng tài sản này để thực hiện các hoạt động kinh doanh.
− Khả năng chuyển đổi: Tài sản trong doanh nghiệp có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt hoặc các loại tài sản khác theo nhu cầu và tình hình kinh doanh của 2 Thư viện ĐH Thăng Long doanh nghiệp. Việc chuyển đổi tài sản giúp doanh nghiệp thay đổi cấu trúc tài chính, tăng cường hoạt động sản xuất và kinh doanh. − Tăng giá trị: Tài sản trong doanh nghiệp có thể tăng giá trị theo thời gian thông qua quá trình sử dụng, mua bán hoặc đầu tư vào các tài sản mới. Việc tăng giá trị tài sản giúp nâng cao khả năng cạnh tranh và tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.
− Phụ thuộc vào nguồn tài chính: Tài sản trong doanh nghiệp thường phụ thuộc vào nguồn tài chính để mua, sở hữu và bảo trì. Nguồn tài chính bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn cho vay từ ngân hàng hoặc các kênh tài chính khác.