CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN 1. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản ngắn hạn Muốn hoạt động SXKD được tiến hành mỗi doanh nghiệp cần có các yếu tố cơ bản là đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động. Quá trình kết hợp các yếu tố đó để tạo ra hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ người ta gọi là quá trình SXKD.
Khác với tư liệu lao động, đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kì sản xuất kinh doanh và luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và được bù đắp khi giá trị sản phẩm được thực hiện. Biểu hiện dưới hình thái vật chất của đối tượng lao động gọi là TSNH. Theo điều 112 Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 thì tài sản ngắn hạn là sự phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản TĐT và các TSNH khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo. Tóm lại, TSNH được hiểu khải quát là tài sản lưu động, là loại tài sản có thời gian sử dụng, luân chuyển và thu hồi vốn không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, TSNH được thể hiện trên các khoản mục: Tiền và TĐT, các KPT, HTK và chứng khoán thanh khoản cao. Các khoản mục đó ảnh hưởng trực tiếp đến sự luân chuyển vốn của doanh nghiệp. Do đó, sử dụng hiệu quả TSNH là thực sự cần thiết mà mỗi doanh nghiệp phải làm để đảm bảo cho sự hoạt động được trơn tru, phát triển bền vững với nguồn lợi nhuận lớn. Phân loại tài sản ngắn hạn Trong quá trình quản lý hoạt động SXKD nói chung và quản lý tài chính nói riêng tùy theo yêu cầu quản lý mỗi doanh nghiệp sẽ có những tiêu thức khác nhau để phân loại TSNH tuy nhiên dựa trên tính chất vận động của TSNH hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được doanh nghiệp sử dụng: 1.
Phân loại theo hình thái biểu hiện 7 a. Tiền và các khoản tương đương tiền Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển và các khoản tương đương tiền như vàng, đá quý,…Đây là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất trong doanh nghiệp, do vậy doanh nghiệp cần duy trì một cách hợp lí để vừa có thể đảm bảo khả năng thanh toán an toàn vừa có thể tiết kiếm vốn ứ đọng lại trong doanh nghiệp bởi đây là loại tài sản gần như không sinh lời. Các khoản TĐT: là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày đầu tư, có khả năng chuyền thành tiền một cách dễ dàng và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền tại thời điểm báo cáo. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Là các khoản đầu tư ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu,…), dự phòng đầu tư,… có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp.
Không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng kể từ ngày mua khoản đầu tư đó do đã được tính vào chỉ tiêu “Tiền và các khoản TĐT”. Đây là khoản vừa có tính thanh khoản cao, vừa có khả năng sinh lời do vậy khi tiền mặt không đáp ứng đủ nhu cầu thì doanh nghiệp thường bán chứng khoán này để vừa có thể chuyển đổi thành tiền mặt nhanh chóng vừa ít tốn kém chi phí. Các khoản phải thu ngắn hạn Bao gồm toàn bộ các khoản doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác như phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, trả trước cho người bán, phải thu khác và các KPT khó đòi. Đây là một loại tài sản quan trọng của doanh nghiệp đặc biệt là với doanh nghiệp thương mại.
Một doanh nghiệp muốn mở rộng mạng lưới tiêu thụ hay tạo dựng mối quan hệ lâu dài thì doanh nghiệp sẽ bán chịu cho khách hàng, từ đó phát sinh các khoản tín dụng thương mại. Tín dụng thương mại giống như một con dao hai lưỡi của doanh nghiệp bởi nó có thể giúp doanh nghiệp nâng cao doanh số từ đó tăng doanh thu, nhưng cũng có thể đẩy doanh nghiệp vào tình trạng khó khăn, khó thu hồi từ khách hàng và có thể dẫn đến phá sản nếu những KPT khó 8 đòi quá lớn. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần phải có chính sách phù hợp để cân đối các KPT cho phù hợp với quy mô cũng như tình hình SXKD. Hàng tồn kho Là toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại, dự trữ trong quá trình SXKD.
Mỗi doanh nghiệp thì các khoản mục này sẽ có giá trị và tỷ trọng khác nhau trong tổng TSNH. Song doanh nghiệp nào cũng cần phải có chế độ quản lý khoa học, hợp lý để vừa đảm bảo quá trình hoạt động SXKD được diễn ra thông suốt, thuận lợi, vừa giảm thiểu được tối đa những chi phí không cần thiết để từ đó giúp việc quản lý và sử dụng TSNH hiệu quả hơn. Tài sản ngắn hạn khác Bao gồm các TSNH khác như: chi phí trả trước, khoản thuế phải thu, giao dịch mua bán trái phiếu Chính phủ và tài sản. Việc phân loại TSNH theo hình thái biểu hiện giúp doanh nghiệp xem xét đánh giá được mức tồn kho dự trữ và KNTT của doanh nghiệp.
Hơn nữa, có thể giúp doanh nghiệp xác định được các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng TSNH để từ đó đưa ra biện pháp quản lý một cách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng chúng một cách tốt nhất. Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình SXKD a. Tài sản ngắn hạn dự trữ Nguyên vật liệu chính, bán thành phẩm mua ngoài: là những loại nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất sẽ cấu tạo nên thực thể sản phẩm. Nhiên liệu: là loại vật liệu phụ có tác dụng cung cấp nhiệt lượng cho quá trình SXKD, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chế tạo được diễn ra bình thường.
Phụ tùng thay thế: là những chi tiết, phụ tùng, linh kiện phục vụ cho việc thay thế sửa chữa máy móc, thiết bị, phương tiện vật tư công cụ, dụng cụ sản xuất,… Vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản: là những vật liệu và thiết bị được sử dụng cho công việc xây dựng cơ bản. 9 Công cụ, dụng cụ lao động nhỏ: là những tư liệu lao động mà doanh nghiệp có thể sử dụng trong nhiều chu kỳ tiến hành SXKD, chúng không đủ tiêu chuẩn là TSCĐ vì giá trị nhỏ và thời gian sử dụng tương đối thấp. Tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất Sản phẩm đang chế tạo + Sản phẩm dở dang: là những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất xây dựng hoặc đang ở các nơi làm việc đợi hoàn thành, chi phí trồng trọt dở dang, chi phí chăn nuôi dở dang,… + Bán thành phẩm tự chế: là sản phẩm dở dang nhưng đã hoàn thành giai đoạn chế biến nhất định. Chi phí trả trước, chi phí chờ kết chuyển, các khoản chi phí khác phục vụ cho quá trình sản xuất,… c.
Tài sản ngắn hạn trong lưu thông Thành phẩm: là các sản phẩm đã hoàn thành đang được dự trữ chờ tiêu thụ. Hàng hóa: là thành phẩm đã được nhập kho và có thể xuất kho bất cứ lúc nào để tiêu thụ ra thị trường. Khi phân loại theo vai trò của TSNH trong quá trình SXKD sẽ giúp doanh nghiệp thấy được kết cấu TSNH theo từng khâu của quá trình SXKD. Đặc điểm tài sản ngắn hạn TSNH là một bộ phận không thể thiếu trong quá trình SXKD, tham gia vào tất cả các khâu của nhằm đảm bảo quá trình SXKD được diễn ra thường xuyên, liên tục để không làm ảnh hưởng đến KNTT và khả năng sinh lời của tài sản.
Theo giáo trình “Tài chính doanh nghiệp” của Th.S Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh TSNH có bốn đặc điểm: Thứ nhất, TSNH có thời gian luân chuyển trong một chu kỳ kinh doanh – là đặc điểm dễ nhận biết để phân biệt với TSDH. 10 Thứ hai, TSNH sẽ chuyển toàn bộ giá trị vào sản phẩm của quá trình SXKD do đó mọi chi phí phát sinh trong quá trình chuyển hóa thành sản phẩm hoàn thiện đều được ghi nhận vào giá thành của sản phẩm. Thứ ba, TSNH thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo ra sản phẩm – đặc điểm dễ thấy của TSNH đặc biệt là đối với doanh nghiệp tập trung vào sản xuất. Thứ tư, các loại TSNH có tính thanh khoản cao, dễ chuyển đổi thành tiền mặt hoặc các tài sản TĐT.
Vai trò của tài sản ngắn hạn Đối với sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp thì TSNH có vai trò rất quan trọng để thực hiện hoạt động SXKD và cung cấp dịch vụ mình. TSNH có những vai trò chủ yếu như sau: Một là, TSNH giúp quá trình sản xuất của doanh nghiệp diễn ra bình thường, liên tục. Thông qua sự vận động của TSNH có thể đánh giá được tình hình dự trữ, tiêu thụ sản phẩm và tình hình sử dụng vốn ngắn hạn của doanh nghiệp. Hai là, TSNH đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo KNTT nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
KNTT nợ ngắn hạn thấp, kéo dài sẽ dẫn đến rủi ro tài chính cao và nguy cơ phá sản có thể xảy ra do vậy việc sử dụng và quản lý tốt TSNH sẽ là điều kiện cần để đảm bảo KNTT nợ cho doanh nghiệp. Từ đó giúp doanh nghiệp tăng uy tín với đối tác, khách hàng và có thể đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp trong tương lai. Ba là, sự vận động của TSNH sẽ phản ánh tình hình mua sắm vật tư, tình hình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Qua đó làm cơ sở để doanh nghiệp kiểm soát chi phí, nâng cao năng lực sản xuất và có biện pháp để nâng cao doanh thu tiêu thụ.
Chính vì thế, việc nâng cao hiệu quả sử dụng TSNH trở thành nhu cầu tất yếu đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào. Nguồn vốn tài trợ cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 11 Mỗi loại tài sản sẽ được tài trợ bằng một nguồn vốn nhất định.Thông thường doanh nghiệp sẽ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để tài trợ cho TSNH.