CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về tài sản trong doanh nghiệp 1. Tài sản của doanh nghiệp Theo cuốn "Tài chính doanh nghiệp" (PGS.
Vũ Duy Hào, Ths. Trần Minh Tuấn, 2021), "Doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế tiến hành các hoạt động kinh tế theo một kế hoạch nhất định nhằm mục đích kiếm lợi nhuận." Theo khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2020, "Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Vũ Duy Hào, Ths. Trần Minh Tuấn (Tài chính doanh nghiệp – 2021) "Tài sản là những nguồn lực mà doanh nghiệp kiểm soát được và dự tính đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai của doanh nghiệp".
"Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản". Theo Điều 105 Bộ Luật Dân sự năm 2015 thì “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Có thể thấy tài sản là tất cả nguồn lực thuộc sở hữu của doanh nghiệp, do doanh nghiệp nắm giữ, kiểm soát, phân phối, quản lý nhằm mục đích tạo ra giá trị kinh tế dương từ việc sở hữu các loại tài sản.
Hiểu một cách đơn giản thì tài sản thể hiện giá trị sở hữu thông qua việc có thể được chuyển đổi thành tiền mặt (mặc dù bản thân tiền được coi là một loại tài sản). Phân loại tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp có thể được phân chia thành nhiều nhóm theo từng tiêu chí khác nhau: 1. Theo hình thái biểu hiện, tài sản bao gồm: Tài sản hữu hình và Tài sản vô hình Theo Tiêu chuẩn thẩm định giá số 07 ban hành kèm theo Thông tư số 28/2015/TT-BTC ngày 06/3/2015 của Bộ Tài chính: "Tài sản hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do chủ tài sản nắm giữ để sử dụng phục vụ các mục đích của mình, ví dụ như: đất đai, nhà cửa, công trình 3 khác, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, thiết bị sản xuất, thiết bị truyền dẫn. Tài sản hữu hình có những đặc điểm nhận biết sau: Có đặc tính vật lý; Thuộc sở hữu của chủ tài sản; Có thể trao đổi được; Có thể mang giá trị vật chất hoặc tinh thần.
Tài sản vô hình là tài sản không có hình thái vật chất và có khả năng tạo ra các quyền, lợi ích kinh tế. Tài sản vô hình gồm những loại chủ yếu sau đây: + Tài sản trí tuệ; + Quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, ví dụ: quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp,.; + Quyền mang lại lợi ích kinh tế đối với các bên được quy định cụ thể tại hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật, ví dụ: quyền khai thác khoáng sản, quyền kinh doanh, quyền phát thải có thể chuyển nhượng được; + Các mối quan hệ phi hợp đồng mang lại lợi ích kinh tế cho các bên, các mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp hoặc các chủ thể khác, ví dụ: danh sách khách hàng, cơ sở dữ liệu; + Các tài sản vô hình khác. Theo tính chất tuần hoàn và luân chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và Tài sản lưu động - TSCĐ không có quy định chung mà theo Thông tư 45/2013/TT-BTC thì tài sản có thời gian sử dụng cố định và khấu hao theo thời gian và được định nghĩa cụ thể đối với từng loại TSCĐ như sau: + TSCĐ hữu hình: Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. + TSCĐ vô hình: Là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của TSCĐ vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả.
+ TSCĐ thuê tài chính: Là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất 4 phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động.
- TSLĐ là những tài sản ngắn hạn và những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, TSLĐ được thể hiện ở các bộ phận bao gồm có: tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, hiện vật (vật tư, hàng hóa), các khoản nợ phải thu ngắn hạn. Trong doanh nghiệp, TSLĐ bao gồm TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông, cụ thể: + TSLĐ sản xuất gồm những vật tư dự trữ nhằm chuẩn bị cho quá trình sản xuất được liên tục, bao gồm có: nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, các phụ tùng thay thế, công cụ lao động nhỏ,… + TSLĐ lưu thông bao gồm có các sản phẩm hàng hóa chưa được tiêu thụ, vốn bằng tiền mặt, vốn trong thanh toán. Theo thời gian sử dụng tài sản, tài sản bao gồm: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn - TSNH bao gồm tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm. Tài sản ngắn hạn rất quan trọng trong kinh doanh bởi đó là những tài sản được sử dụng trong cho hoạt động hàng ngày và chi trả cho các chi phí phát sinh.
Theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC định nghĩa "TSNH của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. TSNH của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu." TSNH gồm: Tiền và các khoản tương đương tiền; Tài sản tài chính ngắn hạn; Các khoản phải thu ngắn hạn; Hàng tồn kho và TSNH khác. - TSDH là những tư liệu lao động chủ yếu và có đặc điểm cơ bản là tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, không có sự thay đổi về hình thái vật chất từ chu kỳ sản xuất đầu tiên cho đến khi bị loại khỏi quá trình sản xuất. Căn cứ vào quy định Luật Kế toán Việt Nam, TSDH bao gồm: các khoản phải thu dài hạn, TSCĐ, tài sản đầu tư tài chính dài hạn và TSDH khác.
Song trong quản lý, người ta quan tâm nhiều nhất đến TSCĐ của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Hiệu quả được coi là một thuật ngữ để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu của chủ thể và chi phí mà chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong điều kiện nhất định. Như vậy, hiệu quả phản ánh kết quả thực hiện các mục tiêu hành động trong quan hệ với chi phí bỏ ra và hiệu quả được xem xét trong bối cảnh hay điều kiện nhất định, đồng thời cũng được xem xét dưới quan điểm đánh giá của chủ thể nghiên cứu.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu xác định trong quá trình SXKD. Mỗi doanh nghiệp tồn tại và phát triển vì nhiều mục tiêu khác nhau như: Tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa doanh thu, tối đa hóa hoạt động hữu ích của các nhà lãnh đạo doanh nghệp. song tất cả các mục tiêu cụ thể đó đều nhằm mục tiêu bao trùm nhất là tối đa hóa giá trị tài sản cho các chủ sở hữu. Để đạt được mục tiêu này, tất cả các doanh nghiệp đều phải nỗ lực khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả tài sản của mình.
Như vậy, hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp là tiêu chí phản ánh trình độ, năng lực khai thác và sử dụng tài sản của doanh nghiệp sao cho quá trình SXKD tiến hành bình thường với hiệu quả kinh tế cao nhất. Từ đó, hiệu quả sử dụng tài sản phải được so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí (về tài sản) đã bỏ ra. Kết quả đạt được là doanh thu, thu nhập hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp Việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản trong doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, cần thiết.
Các chỉ tiêu là cơ sở để đo lượng mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Làm sao để tính các chỉ tiêu đó và áp dụng các chỉ số đó như thế nào là một khâu quan trọng trong hoạt động quản trị doanh nghiệp. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng tổng tài sản - Khả năng sinh lời tổng tài sản (ROA): Tỷ số này cho biết khả năng sinh lời trên mỗi đồng đầu tư vào tài sản của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng đầu tư vào tài sản thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế.
Tỷ số sinh lời tổng tài sản (ROA) = (Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân) x 100% 6 Tổng tài sản bình quân = (Tổng tài sản đầu kỳ + Tổng tài sản cuối kỳ)/2 Khả năng sinh lời của tổng tài sản càng cao đồng nghĩa với việc tài sản của công ty đang được sử dụng vào các hoạt động SXKD càng hiệu quả. Tuy nhiên để có được kết luận chính xác về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tài sản của một công ty cần so sánh khả năng sinh lời của tài sản tại công ty đó với khả năng sinh lời tổng tài sản bình quân của ngành. - Tỷ suất sinh lời kinh tế của tài sản (BEP): “Là tỷ suất lợi nhuận trước lãi vay và thuế trên tổng tài sản.