LỜI MỞ ĐẦU Những năm gần đây nhờ đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, du lịch Việt Nam tiếp tục phát triển về nhiều mặt. Kết quả này của ngành du lịch Việt Nam có sự đóng góp quan trọng của các khách sạn. Ngành kinh doanh khách sạn đã đảm bảo hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Tuy nhiên, với chính sách mở cửa trong nền kinh tế thị trường đã đặt ngành du lịch đứng trước một cuộc cạnh tranh gay gắt, kinh doanh khách sạn bị một sức ép lớn từ nhiều phía trên thị trường.
Muốn tồn tại và phát triển, bản thân các khách sạn, các nhà quản lý khách sạn phải tìm ra những giải pháp tích cực để có thể phát triển kinh doanh, tăng doanh thu và lợi nhuận, giữ vững uy tín và chỗ đứng trên thị trường. Do đặc thù sản phẩm của khách sạn, chủ yếu là sản phẩm dịch vụ, nên lao động của ngành này cũng rất đặc biệt so với các ngành khác ở tính chất, nội dung của công việc. Một biện pháp hữu hiệu để có thể đứng vững trên thị trường của ngành kinh doanh khách sạn là phải quản lý nguồn nhân lực của mình một cách có khoa học và hiệu quả nhất. Nguồn nhân lực luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu và là một trong những vũ khí lợi hại trong chiến lược kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Nhà khách Hải Quân – công ty Hải Thành vẫn chưa có đề tài nghiên cứu về vấn đề này. Sau một thời gian thực tập tại Nhà khách Hải Quân – công ty Hải Thành và tìm hiểu được tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực trong kinh doanh khách sạn em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp kinh doanh khách sạn nghiên cứu Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 1 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC tình huống tại Nhà khách Hải Quân – công ty Hải Thành” làm đề tài nghiên cứu khoa học với mục tiêu: Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản trị nhân sự tại trong khách sạn Phân tích đánh giá thực trạng công tác quản trị nhân lực tại Nhà khách Hải Quân Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực tại Nhà khách Hải Quân. Từ đó vận dụng lý luận về quản trị nhân sự vào công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực của nhà khách Hải Quân – Công ty Hải Thành. Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 2 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHƢƠNG 1 1.
Quản trị nhân sự Khái niệm quản trị nguồn nhân lực không giống nhau ở các quốc gia khác nhau. Trong một nền kinh tế chuyển đổi như của Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức thấp, kinh tế chưa ổn định và nhà nước chủ trương “quá trình phát triển thực hiện bằng con người và vì con người ”, thì “ quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con người của một tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên” [1]. Các hoạt động chủ yếu của quản trị nguồn nhân lực Hoạt động sản xuất – kinh doanh ngày nay đặt ra cho Quản trị nhân lực rất nhiều vấn đề cần giải quyết. Bao gồm từ việc đối phó với những thay đổi của môi trường kinh doanh, sự biến động không ngừng của thị trường lao động, những thay đổi pháp luật về lao động… Tuy nhiên có thể phân chia các hoạt động chủ yếu của QTNL theo 3 nhóm chức năng chủ yếu sau [2].
* Nhóm chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ nhân viên về số lượng cũng như chất lượng. Muốn vậy doanh nghiệp phải tiến hành: kế hoạch hoá nhân lực; phân tích, thiết kế công việc, biên chế nhân lực, tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí nhân lực. * Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 3 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Nhóm chức năng này chú trọng các hoạt động nhằm nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc được giao và tạo điều kiện cho nhân viên được phát triển tối đa các năng lực cá nhân. Nhóm chức năng đào tạo, phát triển thường thực hiện các hoạt động như: hướng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nhân; bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ.
* Nhóm chức năng duy trì nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Nhóm chức năng này bao gồm 3 hoạt động: đánh giá thực hiện công việc và thù lao lao động cho nhân viên, duy trì và phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Thông qua hệ thống thù lao lao động và phúc lợi một mặt thúc đẩy nhân viên làm việc hăng say, tận tình có ý thức trách nhiệm. Mặt khác, đây là những biện pháp hữu hiệu để thu hút và duy trì được đội ngũ lao động lành nghề cho doanh nghiệp.
Duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp vừa tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tập thể lành mạnh, vừa giúp cho nhân viên thoả mãn với công việc của mình. Vai trò của quản trị nguồn nhân lực Về mặt kinh tế: quản trị nguồn nhân lực giúp cho doanh nghiệp khai thác các khả năng tiềm tàng nâng cao năng suất lao động và lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp về nguồn nhân lực. Về mặt xã hội: quản trị nguồn nhân lực thể hiện quan điểm rất nhân bản về quyền lợi của người lao động, đề cao vị thế và giá trị của người lao động, chú trọng giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa tổ chức, doanh nghiệp và người lao động, góp phần làm giảm bớt mâu thuẫn tư bản - lao động trong các doanh nghiệp. Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 4 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1.
Hoạch định nguồn nhân lực Quá trình hoạch định nguồn nhân lực cần được thực hiện trong mối liên hệ mật thiết với quá trình hoạch định và thực hiện các chiến lược và chính sách kinh doanh của doanh nghiệp. Thông thường, quá trình hoạch định được thực hiện theo các bước sau [1]: (1) Phân tích môi trường, xác định mục tiêu và chiến lược cho doanh nghiệp. (2) Phân tích hiện trạng quản trị nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. (5) Phân tích quan hệ cung cầu nguồn nhân lực, khả năng điều chỉnh và đề các chính sách, kế hoạch, chương trình thực hiện giúp cho doanh nghiệp thích ứng với các nhu cầu mới và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực.
(6) Thực hiện các chính sách, kế hoạch, chương trình quản trị nguồn nhân lực của doanh nghiệp trong bước năm. (7) Kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện. Những đặc trƣng cơ bản của kinh doanh khách sạn 1. Khái niệm và chức năng Theo như khái niệm ngành du lịch thì “kinh doanh khách sạn là một hình thức kinh doanh dịch vụ nhằm đáp ứng các yêu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách du lịch trong thời gian lưu trú tạm thời” Kinh doanh khách sạn bao gồm các chức năng : chức năng sản xuất, chức năng lưu thông và tổ chức tiêu thụ sản phẩm.
Kinh doanh khách sạn vì mục tiêu thu hút được nhiều khách du lịch, thỏa mãn được nhiều khách du lịch ở mức độ cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch, cho đất nước và cho chính bản thân khách sạn. Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 5 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Vị trí của ngành kinh doanh khách sạn: là điều kiện không thể không có để đảm bảo cho du lịch tồn tại và phát triển, khách sạn là nơi dừng chân của khách trong hành trình du lịch của họ. Khách sạn cung cấp cho họ những nhu cầu thiết yếu (ăn uống, nghỉ ngơi…) và những nhu cầu vui chơi giải trí khác. Kinh doanh khách sạn tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần đưa ngành du lịch phát triển, tạo công ăn việc làm trong ngành, tạo nguồn thu ngoại tệ lơn cho ngành, là cầu nối giữa ngành du lịch với các ngành khác.
Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn Trước hết, kinh doanh khách sạn phụ thuộc vào tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch. Có nghĩa là khách sạn phát triển tốt nhất thuận lợi nhất ở những nơi có tài nguyên du lịch (tức là các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử văn hóa). Trong khi đó khách du lịch lại là đối tượng khách hàng quan trọng nhất của một khách sạn nên nơi nào không có tài nguyên du lịch thì tất yếu thu hút khách du lịch là rất kém. Qua đó thấy sức ảnh hưởng của tài nguyên du lịch là không nhỏ đến kinh doanh khách sạn.
Chính giá trị và sự hấp dẫn của nó sẽ quyết định đến thứ hạng của khách sạn. Thứ hai, hoạt động kinh doanh khách sạn đòi hỏi vốn đầu tư lớn do yêu cầu về chất lượng cao cuả sản phẩm khách sạn. Diều này liên quan đến việc xếp hạng của khách sạn. Trên cơ sở vật chất của khách sạn càng cao thì thứ hạng sẽ tăng lên.Vì vậy mà các trang thiết bị được lắp đạt bên trong khách sạn càng hiện đại bao nhiêu thì nó thúc đẩy chi phí đầu tư ban đầu của khách sạn lên cao bấy nhiêu.
Ngoài ra còn liên quan đến một số chi phí khác như chi phí cơ sở hạ tầng, chi phí cho đất đai của khách sạn… Thứ ba, kinh doanh khách sạn đòi hỏi dung lượng lao động trực tiếp tương đối lớn. Vì sản phẩm chủ yếu của khách sạn là sản phẩm vô hình, mang tính chất phục vụ nên không thể cơ giới hóa, mà chỉ được thực hiện bởi đội ngũ nhân viên phục vụ Sinh viên: Hoàng Thị Kim Dung – QT1101N 6 ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC trong khách sạn. Lao động trong kinh doanh khách sạn mang tính chuyên môn hóa cao, phân ca, bố trí, sắp xếp lao động làm việc, đảm bảo sức khỏe cho người lao động.