CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC 1.1 Lý luận về nguồn nhân lực 1.1 Khái niệm nguồn nhân lực (NNL) Hiện nay, nguồn nhân lực(NNL) là nguồn quan trọng nhất, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi doanh nghiệp. Đứng trên các gốc độ khác nhau, lhi nghiên cứu nguồn nhân lực, các học giả đã đưa ra các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân với vai trò khác nhau và được lien kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Đối với một doanh nghiệp, theo giáo trình Quản trị nhân lực -2004 Đại học kinh tế quốc dân thì “Nguồn nhân lực bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người, mà nguồn lực này bao gồm thể lực và trí lực” [10].
Xét theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực chính là nguồn lực của con người bao gồm 2 thành tố là thể lực và trí lực, là tài nguyên quan trọng nhất để đánh giá tiềm lực và phát triển của mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi ngành hay mỗi doanh nghiệp. Theo nghĩa hẹp trong phạm vi tổ chức thì NNL chính là số lượng và chất lượng người lao động đang làm việc trong tổ chức đó.2 Các yếu tố cấu thành NNL 1.1 Số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với các chỉ tiêu quy mô và tốc dộ tăng dân số. Quy mô dân số càng lớn, tốc độ gia tăng dân số càng cao thì dẫn đến quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực càng cao và ngược lại.
Tuy nhiên mí quan hệ giữa dân số và nguồn nhân lực được biểu hiện dau mooth thời gian nhất định. Sinh viên: Phạm Thị Lượt - 6 Khóa luận tốt Trường ĐHDL Hải Xet trong phạm vi một tổ chức thì số lượng nguồn nhân lực là tỏng số người được tổ chức thuê mướn, được trả công và được ghi vào danh sách nhân lực của tổ chức. Xét trong phạm vi quốc gia thì số lượng nguồn nhân lực hay còn gọi là dân số hoạt động kinh tế bao gồm toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động và đang có việc làm hoặc không có việc làm nhưng có nhu cầu làm việc.2 Chất lượng nguồn nhân lực Chất lượng nguồn nhân lực là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực thể hiện ở mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về tinh thần, thể lực và trí lực. Thể lực của nguồn nhân lực Một trong những chỉ tiêu nói lên chất lượng nguồn nhân lực là tình trạng thể lực của người lao động, bao gồm các yếu tố như chiều cao, cân nặng, sức khỏe.
Các yếu tố này phụ thuộc chặt chẽ vào các điều kiện như: Mức sống, thu nhập, nghỉ ngơi, chăm sóc y tế và các dịch vụ khác… Do đặc điểm thể trạng của người Châu Á nên người lao động Việt Nam nói chung có thể lực yếu hơn so với một số nước khác, nhất là nước Phương Tây. Người Việt Nam thường kém thích nghi trong điều hiện lao động nặng nhọc và cường độ cao. Để nâng coa thể lực nguồn nhân lực, cần có các biện pháp cải thiện điều kiện dinh dương, ở nhà và môi trường cho người lao động, tạo ra lối sống lành mạnh, tác phong làm việc khoe học, thực hiện tốt các chế độ nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe cho người lao động. Trình độ của người nhân lực: Nhân tố trí lực của nguồn nhân lực thường được xem xét đánh giá trên hai góc độ: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động.
Về trình độ văn hóa: Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trình độ văn hóa nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Sinh viên: Phạm Thị Lượt - 7 Khóa luận tốt Trường ĐHDL Hải Trình độ văn hóa là khả năng về tri thức và kỹ năng để có thể tiếp thu những kiến thức cơ bản, thực hiện những việc đơn giản để duy trì cuộc sống.Trình độ văn hóa là nền tảng cho việc tiếp thu ác kiên thức khoa học kỹ thuật, đào tạo và tái đào tạo nghề nghiệp. Vì vậy, công tác giáo dục đào tạo đóng vai tròng quyết định trong việc nâng cao thực tế phát triển của nền kinh tế Về trình độ chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn nghiệp vụ là kiến thức và kỹ năng cần thiết để đảm nhiệm các chức vụ trong quản lý, kinh doanh và các hoạt động nghề nghiệp khác nhau nhằm nâng cao hiểu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cho tổ chức mà mình làm việc. Lao động kỹ thuật bao gồm những công nhân lỹ thuật từ bậc 3 trở nên (có bằng hoặc không có bằng) cho tới những người có trình độ trên đại học.
Một lực lượng lao động đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Về phẩm chất tâm lý, xã hội của nguồn nhân lực: Ngoài yếu tố thể lực, trí lực thì quá trình lao động đòi hỏi người lao động hàng loạt các phẩm chất như tính kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong lao động, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc mà họ đảm nhiệm… Cùng với tiến trình phát triển của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi người lao động phải có những phẩm chất tâm lý và xã hội cơ bản: - Có tác phong công nghiệp( nhanh nhẹn, khẩn trương, đúng giờ); - Có ý thức kỷ luật, tự giác cao; - Có niềm say mê nghề nghiệp, chuyên môn; - Sự sang tạo, năng động trong công việc; - Có khả năng chuyển đổi công việc cao thích ứng với những thay đổi trong công việc. - Sinh viên: Phạm Thị Lượt - 8 Khóa luận tốt Trường ĐHDL Hải 1.2 Công tác quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về quản lý và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực Khái niệm về quản trị nguồn nhân lực Theo Nguyễn Hữu Thân “Quản lý nguồn nhân lực là phối hợp một cách tổng thể các hoạt động hoạch định, tuyển mộ, duy trì, phát triển, động viên và tạo mọi điều kiện thuận mợi cho nguồn nhân lực thông qua tổ chức, nhằm đạt được mục tiêu và định hướng viễn cảnh của tổ chức” [10]. Quản lý nguồn nhân lực nghiên cứu những vấn dề về quản lý con người trong tổ chức ở tầm vi mô có hai mục tiêu cơ bản: + Sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực nhằm tăng cường năng suất lao động và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức.
+ Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân viên, tạo điều kiện cho nhân viên phát huy tối đa năng lực cá nhân, được kich thích nhiều nhất tại nơi làm việc và long trung thành tận tâm với Doanh nghiệp. + Phân biệt quản trị nguồn nhân lực và quản trị nhân sự: Thuật ngữ quản trị nguồn nhân lực dần thay thế cho quản trị nhân sự với quan điểm chủ đạo: con người không còn đơn thuần chỉ là yếu tố của quán trình sản xuất kinh doanh mà là nguồn tài sản quý báu của tổ chức, doanh nghiệp. Các doanh nghiệp chuyển từ tình trạng tiết kiệm chi phí lao động để giảm giá thành đầu tư vào nguồn nhân lực để có lợi thế kinh doanh cao hơn, có lợi nhuận cao hơn, hiệu quả cao hơn. Dù ở giác độ nào thì QTNL vẫn là tất cả các hoạt động của một tổ chức để thu hút, xây dựng, phát triển, sử dụng, đánh giá, bảo toàn và giữ gìn một lực lượng lao động phù hợp với yêu cầu công việc của tổ chức cả về mặt số lượng và chất lượng.
Khái niệm hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực: Hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực ở đây chunhs là việc chúng ta đi tìm lời giải cho bài toán về nhân lực: đó là những kết quả mà tổ chức, doanh nghiệp mong muốn, tìm mọi cách thực hiện nhằm vận hành những con người trog tổ Sinh viên: Phạm Thị Lượt - 9 Khóa luận tốt Trường ĐHDL Hải chức một cách thống nhất, linh hoạt nhất nhằm đem lại hiểu quả cao trong tổ chức hay chính là đạt được mục đích của tổ chức, doanh nghiệp tốt nhất.2 Quan điểm của các trường phái quản trị nguồn nhân lực Các quan niệm về QTNNL là những tư tưởng, quan điểm của người chủ doanh nghiệp (cấp lãnh đạo cao nhất) về cách thức quản lý con người trong DN; làm nền tảng và định hướng hoạch định các chính sách, biện pháp về QTNNL; nó có tác dụng nhất định tới hiệu quả, tinh thần và thái độ làm việc của nhân viên; nó phụ thuộc vào các quan niệm về yếu tố con người trong lao động sản xuất. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển nguồn nhân lực, ta thấy có 2 quan niệm chính tương ứng với 2 trường phái sau: Quan niệm thứ nhất : ‘Con người muốn được cư xử như những con người”, do các nhà tâm lý, xã hội học ở các nước tư bản công nghiệp đề xướng và phát triển. Quan niệm này đề cao các quy luật chi phối thái độ cư xử của con người trong quá trình làm việc, người quản lý phải tạo ra một bầu không khí tốt, dân chủ, lắng nghe ý kiến người lao động. Đây là trường phái tâm lý – xã hội học (hay các mối quan hệ con người), đại diện là Mc Gregore, Elton Mayo, Maslow …; với một số nguyên tắc quản lý con người : - Phân quyền, trách nhiệm cho cấp dưới.
- Cho nhân viên tham gia, đóng góp vào công việc chung. - Đề cao vai trò động viên của người quản lý. - Xây dựng các mối quan hệ dựa trên lòng tin hơn là dựa quyền lực. - Phát triển tinh thần trách nhiệm, tự kiểm tra.
- Phát triển công việc theo tập thể tổ, đội. - Tạo ra bầu không khí lao động tốt đẹp. - Nhà quản lý phải hiểu người lao động nghĩ gì, cần gì, khó khăn gì. - Tạo ra sự gắn bó, đồng cảm giữa con người.