CHƯƠNG 1: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực, hiệu quả, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Khái niệm về nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực.
Khái niệm nguồn nhân lực được sử dụng rộng rãi để nói về yếu tố nguồn lực con người trong quá trình phát triển, không chỉ bao hàm những người trong độ tuổi lao động hay chất lượng mà nguồn nhân lực còn chứa đựng hàm ý rộng hơn.TS Nguyễn Tiệp, giáo trình “Nguồn nhân lực”, đại học Lao động xã hội, NXB Lao động-xã hội(20.7): “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển kinh tế-xã hội” .TS Trần Xuân Cầu và PGS.TS Mai Quốc Chánh, Gíao trình kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội( 2007,tr.12): “ Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”. Từ những định nghĩa trên ta có thể định nghĩa: Nguồn nhân lực là tổng thể số lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. Nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
Mai Thanh Loan và PGS.TS Nguyễn Thị Minh Nhàn, giáo trình quản trị nhân lực căn bản, trường Đại học Thương mại(2016, tr.14):“ Nhân lực trong tổ chức, doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ những người làm việc trong tổ chức, doanh nghiệp được trả công, khai thác và sử dụng có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức, doanh nghiệp”. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp, khi nguồn nhân lực là một nguồn lực quan trọng nhất cần được đầu tư, khai thác và sử dụng có hiệu quả. Do đó, có thể nói nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ những con người làm việc cho tổ chức, doanh nghiệp đó. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm về hiệu quả. Trong bất kì một hoạt động nào của con người thì vấn đề được quan tâm đến chính là hiệu quả nó mang lại, hiện nay có một số định nghĩa về hiệu quả như sau: Trong kinh tế học: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả được quan niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Theo từ điển tiếng việt: Hiệu quả là quan hệ giữa kết quả đạt được và nguồn lực sử dụng.TS Phạm Công Đoàn - Thạc sĩ Nguyễn Cảnh Lịch, Giáo trình kinh tế doanh nghiệp thương mại(2004), NXB Thống kê:“ Hiệu quả là mối quan hệ tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã xác định trước với chi phí bỏ ra để đạt được mục đích đó”.
Trong một doanh nghiệp, hiệu quả được chia ra thành hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả xã hội: là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả đạt được của doanh nghiệp đến xã hội và môi trường. Hiệu quả kinh tế: là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động kinh doanh. Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó Có thể tổng kết lại: hiệu quả là một tương quan so sánh giữa kết quả theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt mục tiêu đó.
Khái niệm hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Theo quan điểm của Mác-Lênin: Hiệu quả sử dụng lao động là sự so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một số lao động ít hơn để đạt được kết quả lao động nhiều hơn. Theo nghĩa hẹp : Hiệu quả sử dụng lao động là kết qủa mang lại từ các mô hình , các chính sách quản lý và sử dụng lao động. Kết quả lao động đạt được là doanh thu lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được từ kinh doanh và việc tổ chức, quản lý lao động, có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp.
Theo nghĩa rộng: Hiệu quả sử dụng lao động còn bao hàm thêm khả năng sử dụng lao động đúng ngành, đúng nghề đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho người lao động, là mức độ chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật lao động, khả năng sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở mỗi người lao động, đó là khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại muốn sử dụng lao động có hiệu quả thì người quản lý phải tự biết đánh giá chính xác thực trạng tại doanh nghiệp mình, từ đó có những biện pháp chính sách đối với người lao động thì mới nâng cao được năng suất lao động, việc sử dụng lao động thực sự có hiệu quả. Một số lý thuyết về nguồn nhân lực, hiệu quả, hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực. Lý thuyết liên quan đến nguồn nhân lực.
Số lượng nguồn nhân lực Số lượng nguồn nhân lực được thể hiện thông qua các chỉ tiêu về quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này luôn có mối quan hệ mật thiết với quy mô và tốc độ tăng dân số, khi dân số có quy mô và tốc độ tăng nhanh thì đồng nghĩa với việc nguồn nhân lực cũng gia tăng và ngược lại. Tuy nhiên mối quan hệ này luôn được xác định sau một thời gian nhất định, khi con người có đủ khả năng để tham gia vào đội ngũ lao động. Khi xét trong phạm vi một tổ chức, một doanh nghiệp thì nguồn nhân lực ở đây là tổng số người được tổ chức, doanh nghiệp thuê mướn, được trả công và ghi tên trong danh sách nhân sự tổ chức, doanh nghiệp đó.
Đứng trên góc độ kinh tế phát triển, xét trong phạm vi một quốc gia, số lượng nguồn nhân lực ở đây chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động được xác định dựa trên quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính, sự phân bố dân cư theo khu vực và lãnh thổ. Chất lượng nguồn nhân lực. Khi nói về chất lượng nguồn nhân lực chính là nói về các yếu tố cấu thành bản chất bên trong của nguồn nhân lực đó là các yếu tố về thể lực, trí lực và phẩm chất tâm lí xã hội. Thể lực của nguồn nhân lực.
Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của nguồn nhân lực, thể lực ở đây được thể hiện thông qua tình trạng sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển, trưởng thành một cách bình thường, hoặc có thể đáp ứng các yêu cầu về hao phí sức lực, thần kinh, cơ bắp trong quá trình lao động. Cũng giống như thể trạng của nhiều quốc gia châu Á khác, nguồn nhân lực Việt Nam thường có thể lực yếu hơn một số nước khác, đặc biệt là các nước phương tây. Với chiều cao, cân nặng khá hạn chế làm ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình thực hiện công việc trong điều kiện lao động nặng nhọc và cường độ cao. Vì vậy, việc cải thiện, nâng cao thể lực cho nguồn nhân lực là vô cùng cần thiết, thông qua việc cải thiện điều kiện dinh dưỡng, nhà ở và môi trường sống tạo ra lối sống lành mạnh, tác phong làm việc nghiêm túc, khoa học, thực hiện tốt chế độ nghỉ ngơi và chăm sóc sức khỏe định kỳ cho người lao động.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trí lực của nguồn nhân lực. Trí lực là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn năng lực sáng tạo, khả năng nắm bắt của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những hành động của họ đều được quyết định thông qua đầu óc, vì vậy việc khai thác tiềm năng trí tuệ là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của việc phát huy nguồn lực con người. Thông thường, người ta đánh giá trí lực trên ba góc độ: trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng thực hành của người lao động.
- Về trình độ văn hóa. Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực là trình độ văn hóa nói chung và trình độ chuyên môn nghiệp vụ nói riêng. Trình độ văn hóa là năng lực, khả năng tiếp thu những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao, nắm bắt những việc đơn giản phục vụ cho cuộc sống. Trình độ văn hóa là nền tảng để tiếp thu các kiến thức khoa học công nghệ, đào tạo và tái tạo nghề nghiệp.
Vì vậy, công tác giáo dục là điều kiện tiên quyết để nâng cao dân trí, trình độ học vấn cho người lao động để có thể bắt kịp với xu thế phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật hiện đại. Việc đầu tư vào giáo dục chính là vấn đề cần thiết, trực tiếp và lâu dài nhất vì sự phát triển con người, của nền kinh tế, của đất nước sau này. Do đó Nhà nước cần có những chính sách phù hợp, tập trung vào vấn đề này. - Về trình độ chuyên môn kỹ thuật.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật là kỹ năng cần thiết để đảm nhiêm các vị trí, chức vụ trong kinh doanh, quản lí và các nghề nghiệp khác đòi hỏi trình độ của người lao động nhằm nâng cao hiệu quả hiệu quả lao động, sản xuất kinh doanh cho tổ chức, công ty mà mình làm việc. Trình độ văn hóa với một nền tảng học vấn nhất định là cơ sở để phát triển chuyên môn kỹ thuật, để đất nước có thể phát triển theo con đường công nghiệp hóa- hiện đại hóa thì trình độ chuyên môn kỹ thuật của người lao động là một yếu tố vô cùng quan trọng.