CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ VIỆC SỬ DỤNG LAO ĐỘNG HIỆU QUẢ 1. Hiệu quả là một phạm trù bao hàm. Vậy để làm rõ khái niệm “Hiệu quả lao động hay hiệu quả sử dụng lao động là gì?” trước tiên chúng ta phải đi từ khái niệm “Hiệu quả là gì?”.
* Hiệu quả: Là mối tương quan so sánh giữa kết quả đạt được theo mục tiêu đã được xác định với chi phí bỏ ra để đạt được mục tiêu đó. Để hoạt động hiệu quả, doanh nghiệp phải có các mục tiêu hành động của mình trong từng thời kỳ, đó có thể là các mục tiêu xã hội, cũng có thể là các mục tiêu kinh tế của chủ doanh nghiệp và doanh nghiệp luôn tìm cách để đạt được các mục tiêu đó với chi phí thấp nhất. Đó chính là hiệu quả. Hiệu quả của doanh nghiệp gồm hai bộ phận: Hiệu quả xã hội và hiệu quả kinh tế.
- Hiệu quả xã hội là đại lượng phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu xã hội của doanh nghiệp hoặc mức độ ảnh hưởng của các kết quả doanh nghiệp đạt được đến xã hội và môi trường. Hiệu quả xã hội của doanh nghiệp thường được biểu hiện qua mức độ thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội, giải quyết việc làm, cải thiện điều kiện lao động, cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái. - Hiệu quả kinh tế là hiệu quả chỉ xét trên phương diện kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh. Nó mô tả mối tương quan giữa lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được với chi phí đã bỏ ra để đạt được lợi ích đó.
Thực chất của hiệu quả kinh tế là thực hiện yêu cầu của quy luật tiết kiệm thời gian. Nó biểu 6 hiện trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đã xác định. Nó quyết định động lực phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển văn minh của xã hội và nâng cao đời sống của loài người qua mọi thời đại. Chúng ta có thể khái quát mối tương quan giữa lợi ích kinh tế và chi phí bỏ ra để có lợi ích đó bằng hai công thức sau: - Một là: Hiệu quả là hiệu số giữa kết quả và chi phí.
HQ=KQ–CF(1) Trong đó: HQ: là hiệu quả đạt được trong một thời kỳ nhất định. KQ: là kết quả đạt được trong thời kỳ đó. CF: là chi phí đã bỏ ra để đạt kết quả. Đây là hiệu quả tuyệt đối.
Mục đích so sánh ở đây là để thấy được mức chênh lệch giữa kết quả và chi phí. Mức chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả càng cao. - Ưu điểm: Cách so sánh này đơn giản và dễ tính toán - Nhược điểm: Có một số nhược điểm cơ bản như sau: + Không cho phép đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. + Không có khả năng so sánh hiệu quả giữa các thời kỳ, giữa các doanh nghiệp với nhau.
+ Không phản ánh được năng lực tiềm tàng để nâng cao hiệu quả. + Dễ đồng nhất hai phạm trù hiệu quả và kết quả. - Hai là: Hiệu quả là tỉ lệ so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Đây là chi phí tương đối.
KQ HQ = --------- (2) CF - Ưu điểm: Khắc phục nhược điểm của công thức (1) và cho phép phản ánh hiệu quả ở mọi góc độ khác nhau. 7 - Nhược điểm: Cách đánh giá này khá phức tạp, đòi hỏi phải có quan điểm thống nhất khi lựa chọn hệ thống chỉ tiêu đo lường và đánh giá kết quả. Cả hai cách tính trên đều có những ưu, nhược điểm. Chính vì vậy, khi đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp, chúng ta phải kết hợp cả hai phương pháp đánh giá này.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ hữu cơ với nhau, là hai mặt của một vấn đề. Bởi vậy, khi tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh cũng như khi đánh giá hiệu quả của các hoạt động này cần xem xét cả hai mặt này một cách đồng bộ. Không thể có hiệu quả kinh tế mà không có hiệu quả xã hội. Ngược lại hiệu quả kinh tế là cơ sở, là nền tảng của hiệu quả xã hội.
* Hiệu quả lao động: Con người là một trong những yếu tố khách quan không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ kinh tế, quan niệm về con người gắn liền với lao động (lao động là hoạt động giữa con người với giới tự nhiên) là điều kiện tất yếu để tồn tại và phát triển. Quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động. Sức lao động là năng lực lao động của con người, là toàn bộ thể lực và trí tuệ của con người.
Sử dụng sức lao động chính là quá trình vận dụng sức lao động để tạo ra sản phẩm theo các mục tiêu sản xuất kinh doanh. Làm thế nào để sử dụng lao động có hiệu quả là câu hỏi thường trực của các nhà quản lý và sử dụng lao động. Cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả sử dụng lao động. Theo quan điểm của C.Mác thì hiệu quả sử dụng lao động chính là sự so sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một số lao động ít hơn để đạt được kết quả lao động nhiều hơn.Mác chỉ rõ bất kỳ một phương thức sản xuất liên hiệp nào cũng cần phải có hiệu quả, đó là nguyên tắc của liên hiệp sản xuất.
Mác viết “Lao động có hiệu quả nó cần có một phương thức sản xuất”, và nhấn mạnh rằng: Hiệu quả lao động giữ vai trò quyết định, phát triển sản xuất là để giảm chi phí của con người, tất cả các tiến bộ của khoa học kỹ thuật đều nhằm đạt được mục tiêu đó. 8 Xuất phát từ quan điểm trên, Mác đã vạch ra bản chất của hiệu quả sử dụng lao động là tiết kiệm. Mọi sự tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm thời gian và hơn thế nữa tiết kiệm thời gian không chỉ ở những khâu riêng biệt mà tiết kiệm thời gian cho toàn xã hội. Tất cả những điều đó có nghĩa là khi giải quyết bất kỳ việc gì , vấn đề thực tiễn nào với quan điểm hiệu quả trên, chúng ta luôn đứng trước sự lựa chọn các phương án và các tình huống khác nhau.
Với khả năng cho phép, chúng ta cần đạt được các phương án tốt nhất với hiệu quả lớn nhất và chi phí nhỏ nhất về lao động. Theo quan điểm của F. Taylor thì “Con người là một công cụ lao động”. Quan điểm này cho rằng về bản chất đa số con người không muốn làm việc.
Họ quan tâm nhiều đến cái họ kiếm được chứ không phải là công việc mà họ làm. Rất ít người muốn và có thể làm được những công việc đòi hỏi tính sáng tạo, độc lập và tự kiểm soát. Do đó ông cho rằng chính sách quản trị phải thúc đẩy con người làm việc bằng cách phân chia công việc một cách khoa học, chuyên môn hoá các thao tác của người lao động và buộc họ phải làm theo dây chuyền dưới sự giám sát chặt chẽ. Đồng thời các định mức lao động cũng được xây dựng dựa trên sức làm việc của những người khoẻ mạnh có năng suất cao và bắt buộc người khác tuân theo.
Elton Mayo là người chủ trương phải có một lý thuyết quản trị dựa trên qui tắc chức năng nhất định. Ông cho rằng, bản chất con người không phải là không muốn làm việc mà con người muốn cảm thấy mình có ích và quan trọng. Họ muốn được góp phần thực hiện mục tiêu đồng thời họ có năng lực độc lập sáng tạo. Con người còn muốn nhận được sự khuyến khích, được tôn trọng và khẳng định mình.
Theo ông, trong điều kiện nhất định, con người không chỉ chấp nhận làm việc và còn tự nhận thêm công việc và trách nhiệm về mình. Vì vậy chính 9 sách quản trị của ông là động viện, khuyến khích con người đem lại hết khả năng tham gia công việc chung, tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng của con người. Từ cách tiếp cận vấn đề và dựa vào các quan điểm trên, ta có thể hiểu khái niệm hiệu quả lao động như sau: + Theo nghĩa hẹp: Hiệu quả sử dụng lao động là kết quả mang lại từ các mô hình, các chính sách quản lý và sử dụng lao động. Kết quả lao động thu được là doanh thu, lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt được từ kinh doanh và việc tổ chức, quản lý lao động, có thể là khả năng tạo việc làm của mỗi doanh nghiệp.
+ Theo nghĩa rộng: Hiệu quả sử dụng lao động còn bao hàm thêm khả năng sử dụng lao động đứng ngành, đúng nghề, đảm bảo sức khỏe, đảm bảo an toàn cho người lao động, là mức độ chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, khả năng tạo sáng kiến cải tiến kỹ thuật ở mỗi người lao động và khả năng đảm bảo công bằng cho người lao động. Tóm lại muốn sử dụng lao động hiệu quả thì người quản lý phải tự mình đánh giá thực trạng sử dụng lao động tại doanh nghiệp mình, để từ đó có những biện pháp và chính sách hợp lý đối với người lao động thì mới nâng cao được năng suất lao động và việc sử dụng lao động mới thực sự hiệu quả. Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Có thể nói trong các yếu tố nguồn lực của doanh nghiệp thì yếu tố con người là khó sử dụng nhất.
Phải làm thế nào để nâng cao hiệu quả sử dụng lao động trong doanh nghiệp là vấn đề nan giải của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Trong doanh nghiệp, mục tiêu hàng đầu là lợi nhuận hay nói cách khác là đạt được kết quả kinh doanh cao. Để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không bị giảm sút cần phải sử dụng lao động một cách hợp lý, khoa học. Nếu sử dụng nguồn lao động không hợp lý, việc bố trí lao động không đúng chức năng sẽ gây tâm lý chán nản, không nhiệt tình với công việc được giao dẫn đến hiệu quả kinh doanh thấp và nhiều hệ lụy khác đối với doanh nghiệp.