Chương 1 : Công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước và hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần. Chương 2 : Thực trạng và hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Nam Định. Chương 3 : Phương hướng và giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần từ doanh nghiệp nhà nước của tỉnh Nam Định. 7 Chƣơng 1 CÔNG TY CỔ PHẦN TỪ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC VÀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN 1.
Công ty cổ phần và công ty cổ phần ra đời từ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nƣớc 1.Công ty cổ phần * Lịch sử ra đời của công ty cổ phần Trong nền kinh tế thị trường có rất nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại và hoạt động, trong đó có CTCP là một loại hình rất phổ biến. CTCP ra đời là kết quả tất yếu của việc xã hội hoá sản xuất, của quá trình phát triển kinh tế thị trường ở các nước TBCN. Các CTCP đầu tiên được ra đời ở Tây Âu vào nửa cuối thế kỷ XVI do sự phát triển của lực lượng sản xuất trong các công trường thủ công ở NiĐecTan (một trung tâm kinh tế lớn nhất Tây Âu lúc đó) đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp sản xuất len dạ, kéo theo sự phát triển nông nghiệp và thương nghiệp, đòi hỏi nhu cầu rất lớn về vốn vượt khỏi khả năng tích luỹ của mỗi cá nhân cho các hoạt động kinh tế. Tình hình này đã thể hiện rõ nhất ở nước Anh, vì đây là một nước có vị trí địa lý hết sức thuận lợi trong thương mại, có thể nắm được những luồng buôn bán quan trọng nhất trên thế giới; là nơi trung tâm kinh tế NiĐecTan di chuyển tới tạo nên sự thịnh vượng về kinh tế.
Ở đây cả công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp đều phát triển mạnh nhất so với thế giới nói chung, cũng như so với các nước Tây Âu thời đó. Sự phát triển đó tạo khả năng bành trướng của Anh ra các nước. Khả năng này trở thành hiện thực khi các CTCP ra đời. Năm 1553, CTCP đầu tiên với số vốn 6.000 bảng Anh được thành lập bằng cách phát hành 240 cổ phiếu, mỗi cổ phiếu là 25 bảng để tổ chức đội buôn gồm 3 chiếc thuyền lớn tìm đường sang Ấn Độ theo hướng Đông - Bắc 8 [60, tr 65].
Do sức hấp dẫn về khả năng thu được lợi nhuận lớn từ thị trường Ấn Độ , khoảng 100 thương nhân Anh đã góp vốn cổ phần thành lập công ty Đông Ấn vào năm 1600. Chuyến buôn đầu tiên của công ty này sang Ấn Độ được thực hiện vào tháng 1/1601 với số vốn cổ phần là 68. Đến năm 1617 vốn cổ phần của công ty đã lên tới 1.040 bảng Anh với 954 cổ đông và là công ty lớn nhất nước Anh hồi đó [60, tr 68]. Trong giai đoạn này ở Anh còn thành lập các CTCP khác như công ty Viêcginia, Hơtxơnbai, Plaimơt, NiuScôtlan… theo hướng phát triển thương mại và khai thác thị trường Bắc Mỹ.
Các CTCP này do thương nhân Anh đứng ra thành lập. Hiện tượng này cũng diễn ra ở Hà Lan. Năm 1602 CTCP đầu tiên ở Hà Lan ra đời mang tên công ty Đông Ấn với số vốn đầu tiên là 6,5 triệu Guyđen, đây là công ty do Chính phủ đứng ra tổ chức bằng cách phân bổ cổ phần cho thương nhân ở các thành phố. Thương nhân thành phố Amxtécđam đã được mua tới 1/2 số vốn ban đầu của công ty, thương nhân thành phố Mítđơnbuốc mua 1/4 số cổ phần.
Công ty này không chỉ được độc quyền trong việc buôn bán với Ấn Độ mà còn có các quyền lực đặc biệt như thay Nghị viện ký các thương ước, các hoà ước, gây chiến tranh, xây pháo đài. Từ đó đã thu về cho Hà Lan những món lợi nhuận khổng lồ [60, tr 80-81]. Từ những năm 70 của thế kỷ XVIII dưới tác động của cuộc cách mạng công nghiệp, nhu cầu tập trung vốn được đẩy nhanh một cách khác thường ở các ngành sản xuất mới có ưu thế về cạnh tranh và có khả năng thu được khối lượng lợi nhuận lớn, làm ra đời và phát triển các CTCP mới trong lĩnh vực sản xuất vật chất. Ban đầu các CTCP có mặt ở các ngành xây dựng đường sắt, nhà máy điện, nhà máy luyện kim và cơ khí lớn, ở những công xưởng lớn và những nhà máy hoá chất.
Về sau các CTCP còn xuất hiện trong các ngành sản xuất nông nghiệp. Chẳng hạn ở Đức từ năm 1894 các ngân hàng đã cho nông 9 dân vay theo lối cầm cố bằng cổ phiếu để rồi chuyển quyền sở hữu ruộng đất cho sở giao dịch. Cùng với sự phát triển của các CTCP, các sở giao dịch chứng khoán cũng mọc lên một cách phổ biến tại các nước phương Tây. Bước sang giai đoạn CNTB độc quyền, nhất là từ khi ra đời của CNTB độc quyền nhà nước, CTCP phát triển rất nhanh ở khắp mọi ngành, lĩnh vực.
Chẳng hạn năm 1914 ở nước Mỹ có tới 83,2% sản lượng công nghiệp được sản xuất từ các CTCP, số công ty này lên tới 78.152 chiếm 28,3% tổng số doanh nghiệp công nghiệp. Sự phát triển của CTCP tạo thành kết cấu chuỗi: công ty mẹ, công ty con, công ty cháu, hình thành một loạt tập đoàn doanh nghiệp vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, các CTCP phát triển với những đặc điểm mới. - Chúng được sử dụng vào việc phát triển các công ty xuyên quốc gia và đa quốc gia để liên hợp kinh tế và quốc tế hoá doanh nghiệp cổ phần thành lập các tập đoàn kinh doanh quốc tế.
- Thu hút công nhân viên chức mua cổ phần, thực hiện cái gọi là “CNTB nhân dân” vừa làm dịu mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, vừa để thu hút vốn xã hội một cách rộng rãi. Ví dụ: Năm 1975 trong 300 công ty Mỹ có 500.000 công nhân viên chức mua cổ phiếu; ở Cộng hoà Liên bang Đức 1/3 trong số 1000 gia đình công nhân viên chức có cổ phần. - Cơ cấu của các CTCP tại các nước ngày càng hoàn thiện, pháp luật ngày càng được kiện toàn. Sự phát triển CTCP ở mỗi nước đều có đặc điểm riêng.
Những điều nói trên cho thấy, từ khi ra đời đến nay CTCP đã có lịch sử phát triển hàng trăm năm gắn chặt với trình độ phát triển của nền sản xuất xã 10 hội hoá và trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường. Sự ra đời và phát triển của CTCP không nằm trong ý muốn chủ quan của bất cứ lực lượng nào, mà là một quá trình kinh tế khách quan do các nguyên nhân sau: - Do sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất và trình độ xã hội hoá thúc đẩy quá trình tập trung sản xuất quy mô lớn đòi hỏi sự tập trung lớn về vốn xã hội, trong khi một nhà tư bản riêng biệt dù có tích luỹ nhanh đến mấy cũng không thể nào đáp ứng nổi. Cần phải có sự liên minh, tập trung nhiều tư bản cá biệt trong xã hội bằng cách góp vốn để cùng kinh doanh. Sự tập trung vốn như vậy làm hình thành CTCP.
- Do sự phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá đạt đến một trình độ xã hội hoá nhất định thị trường vốn sẽ ra đời. Cơ sở đầu tiên của thị trường này là tín dụng. Tín dụng là quan hệ kinh tế dưới hình thức quan hệ tiền tệ, người chủ tiền cho người khác vay trong một thời gian nhất định để thu được một món tiền lời gọi là lợi tức. Tín dụng ra đời làm xuất hiện chức năng mới của tiền là chức năng sinh lợi tức.
Sự xuất hiện của tín dụng tất yếu làm hình thành một loại hình doanh nghiệp mới chuyên kinh doanh tiền tệ và tập trung cung - cầu về tiền tệ đó là ngân hàng. Tín dụng và ngân hàng ra đời không chỉ đẩy nhanh quá trình tái sản xuất xã hội mà còn tạo cơ sở trực tiếp thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các CTCP. Theo nhận xét của C.Mác việc phát hành cổ phiếu trong các CTCP không thể nào thực hiện được nếu không có thị trường tiền tệ đã phát triển và nếu không có những doanh nghiệp và dân cư có nhu cầu bán quyền sử dụng vốn tiền tệ trên thị trường mà đây lại là những sản vật của tín dụng. Thực tế còn cho thấy việc phát hành cổ phiếu của các công ty thực hiện thông qua các ngân hàng, đôi khi do bản thân các ngân hàng tiến hành.
11 Ví dụ: Ở Đức năm 1896 hầu hết các CTCP trong ngành điện lực được hình thành dưới sự giúp đỡ của các ngân hàng. Tóm lại: CTCP ra đời và phát triển hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan, nó là kết quả tất yếu của quá trình giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu tập trung vốn trong một khoảng thời gian ngắn với sự hạn chế của mỗi nguồn vốn riêng lẻ, có nguyên nhân sâu xa từ sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội, được tác động trực tiếp bởi cạnh tranh và sự phát triển của các quan hệ tín dụng, ngân hàng. * Đặc điểm của CTCP - Về quan hệ sở hữu: Đây là một hình thức tổ chức doanh nghiệp có nhiều chủ đồng sở hữu. Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là các cổ phần.
Cổ phần là phần vốn cơ bản của công ty thể hiện một lượng giá trị thực tế tính bằng tiền. Số tiền cổ phần được ghi vào một tờ giấy gọi là cổ phiếu. Cổ phiếu chứng minh tư cách thành viên của người góp vốn vào CTCP. Những thành viên này gọi là cổ đông.
Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phần ở mỗi CTCP. Có hai loại cổ phiếu: ghi tên và không ghi tên người mua cổ phiếu. Cổ phiếu có ghi tên thường được bán cho những người là sáng lập viên và thành viên của Hội đồng quản trị. Cổ phiếu không ghi tên (vô danh) được bán rộng rãi cho mọi đối tượng trên thị trường và được tự do chuyển nhượng.
Còn cổ phiếu có ghi tên chỉ được quyền chuyển nhượng khi có sự đồng ý của Hội đồng quản trị của CTCP. Quyền, trách nhiệm và lợi ích của mỗi cổ đông ở CTCP phụ thuộc vào số lượng cổ phần mà họ sở hữu trong công ty. Cổ đông nào có số lượng cổ phần khống chế thì sẽ nắm được quyền chi phối hoạt động của công ty.